Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư - Số 37
Tháng 01 năm 2005

Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com

Tin Ghi Nhận:

Sáng ngày 8/1/2005, trên Vịnh Bắc Bộ, nhiều tàu Hải quân của Trung Quốc đã bắn giết dã man các ngư dân Việt Nam. Có 9 người bị bắn chết, 7 người bị bắn trọng thương, và 8 người hiện đang bị phía Trung Quốc giữ trái phép. Trước sự việc nghiêm trọng này, chính quyền Hà Nội vẫn giữ thái độ thân mật với phía Trung Quốc. Rất nhiều người dân đã bày tỏ sự phẫn nộ và khinh bỉ giới cầm quyền.

Ngày 6/1/2005, cơ quan điều tra Bộ công an đã có quyết định khởi tố nữ phóng viên báo tuổi trẻ Lan Anh về tội: “ chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước”. Quyết định này là một chủ trương sai trái của Đảng cộng sản, nhằm cảnh cáo các phóng viên không được khai thác sâu những vụ bê bối liên quan đến giới quan chức cao cấp ĐCSVN. Xin được nhắc lại rằng, bà Lan Anh đã có nhiều bài viết rất sắc sảo, vạch trần những thủ đoạn làm lũng đoạn thị trường thuốc ở Việt Nam của công ty Zuellig Pharma, gợi cho người đọc nhiều câu hỏi về các thế lực đứng đằng sau công ty Zuellig Pharma. Sự kiện khởi tố và cấm bà Lan Anh rời khỏi nơi cư trú, đã gây nên làn sóng bất bình trong dân chúng.

----- O -----

Tính công khai hay tính tù mù ?

Hồng Sơn

Ngày 6.1.2005, phóng viên báo Tuổi Trẻ TP Hồ Chí Minh tại Hà Nội Nguyễn Thị Lan Anh đã bị Bộ Công an khởi tố. Kèm theo quyết định khởi tố là quyết định cấm bà Lan Anh không được rời nơi cư trú.

VNExpress đưa tin chi tiết như sau:

Theo quyết định khởi tố bị can ngày 5/1, bà Nguyễn Thị Lan Anh bị khởi tố với tội danh: "Chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước" quy định tại điều 263 Bộ Luật hình sự. Trước đó, ngày 15/11/2004, cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự số 18.

Là phóng viên chính thức của Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ TP HCM tại Hà Nội từ năm 2003, Lan Anh được phân công theo dõi ngành y tế và có nhiều bài viết về hoạt động của ngành. Ngày 20/5/2004, trên trang 2 báo Tuổi Trẻ có đăng tin ngắn: "Đề nghị thanh tra toàn diện Công ty Zuellig Pharma" trong đó đề cập đến công văn của Bộ trưởng Y tế Trần Thị Trung Chiến đề nghị Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối phối hợp với các bộ, ngành tổ chức, thanh tra, kiểm tra toàn diện Công ty Zuellig Pharma VN.

Làm nhà báo ở Việt Nam khổ thật.

Chúng ta còn nhớ vụ nhà báo Nguyễn Hoàng Linh bị bắt năm 1997 chỉ vì dám phanh phui những vụ mua bán tàu mờ ám với mafia Ukraina để đục khoét công quỹ. Bây giờ, trước giá thuốc tăng cao đến chóng mặt làm người tiêu thụ hồn siêu phách lạc, bủn rủn tay chân, nhà báo Lan Anh vừa mới vì bảo vệ họ mà đụng đến Công ty Zuellig Pharma (của ai nhỉ ? cái bầu sữa của ai đấy ?) thì đã bị con chó giữ nhà của cái nhà ai đấy sủa nhặng lên và đớp cho một miếng. Tội nghiệp quá! Đảng đã bảo mà: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” (như lời nguyên tổng bí thư Đỗ Mười mắng phóng viên báo Nhân Dân Đinh Thế Huynh khi ông này dám đưa tin ông tổng bí thư nhận một triệu đô la tiền biếu của tư bản Nam Hàn), không nghe thì chết. Đừng có đùa với chính quyền!

Ấy là nhà báo mới đụng đến có một công ty dược phẩm thôi đấy. Bà Lan Anh mà đụng vào cái gì to hơn thì không phải chỉ được hưởng cái quyết định khởi tố hiền lành ấy đâu. Người ta cho ngay một cặp còng số 8 ấy chứ.

Tội của bà ta cụ thể là cái gì vậy ?

Nói có đầu có đuôi thì dài dòng, nhưng tóm lại là tội dám hối thúc (bằng cách đưa lên mặt báo mới gớm chứ) việc thanh tra Công ty Zuellig Pharma, không để cho nó có thời giờ cạo sửa chứng từ, sổ sách cho hợp với công văn của bà bộ trưởng (cũng đề nghị Thủ tướng chính phủ đúng như nhóm phóng viên của báo Tuổi Trẻ đề nghị), hoặc thay đổi phương hướng kinh doanh theo kiểu mới với lợi nhuận như cũ. Nhóm này, được hiểu ngầm là bà Lan Anh đầu têu đã đám bóc mẽ bà bộ trưởng và bộ sậu của bà đến như thế này: “Lãnh đạo Bộ Y tế rất biết lĩnh vực dược (gồm văcxin, thuốc cổ truyền và tân dược, dược bệnh viện) là rất “thơm” nên đã chủ trương chia nhỏ lĩnh vực này kiểu “hoa thơm mỗi người hưởng một tí”: Cục Y tế dự phòng được phân công cấp phép lưu hành văcxin; Vụ Điều trị phụ trách dược bệnh viện; Vụ Y học cổ truyền cấp phép thuốc cổ truyền; Cục Quản lý dược cấp phép lưu hành, quản lý tân dược và mỹ phẩm. Chính vì sự “nhiều dây lắm nhợ” này, việc quản lý dược phẩm càng trở nên khó khăn hơn: khi thuốc vào VN phải xin phép Cục Quản lý dược, vào bệnh viện phải tuân theo qui định của Vụ điều trị... Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những chậm trễ, lúng túng trong quản lý giá thuốc nhiều năm qua.

Viết như thế có khác nào bảo lãnh đạo Bộ Y tế là… mafia.

Cho nên bà Lan Anh có bị khởi tố về tội "Chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước" cũng đáng. Bộ Y tế là ai nếu không phải là nhà nước ?

Đáng chú ý là lần này báo Tuổi Trẻ đã không “bỏ của chạy lấy người”, để mặc cho bản báo phóng viên chịu trận. Một luật sư trong đoàn Luật sư Hà Nội, ông Chu Khang, đã được báo Tuổi Trẻ mời bảo vệ cho bà Lan Anh. Ông Xuân Trung, trưởng văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ ở Hà Nội tuyên bố: "Chúng tôi hy vọng tại tất cả các buổi lấy cung của cơ quan điều tra, phóng viên Lan Anh đều có mặt luật sư của mình". Tức là, cái là điều bình thường theo luật định thì ông Xuân Trung chỉ dám khiêm tốn trình ra trước công luận dưới hình thức “hy vọng”. Bộ Công an vốn không coi cái điều luật định ấy là cái đinh gì.

Dường như bà Lan Anh lần này có may mắn hơn ông Hoàng Linh 8 năm về trước. Bây giờ đã có người dám giở luật ra nói chuyện phải trái với nhà nước. Thạc sĩ luật Phạm Thanh Bình (Văn phòng luật sư Hồng Hà) cho VnExpress biết: "Tại điều 7 Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000 quy định: “Danh mục bí mật nhà nước thuộc độ mật do người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền của cơ quan, tổ chức đề nghị Bộ trưởng Công an quyết định”. Như vậy, để xác định công văn trên có phải tài liệu mật hay không, cần phải xem xét Bộ Y tế đã lập danh mục bí mật nhà nước, và danh mục đó đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật hay chưa.

Chết cha. Bà bộ trưởng Trần Thị Trung Chiến vỗ trán đánh đét: “Cái bọn làm luật đến là rách việc. Lôi thôi quá! Mình thì lại quên khuấy cái vụ đưa vào danh sách tài liệu mật mới bỏ mẹ. Ê, anh chánh văn phòng đâu, chạy sang bên Công an nhờ mấy anh bên ấy sửa giúp lại cái chỗ ta hớ đi. Nhớ mang giấy khống chỉ đi nhá!”

Tin này là tin vỉa hè. Ai tin thì tin, không tin thì thôi, nhưng bảo đảm từ nguồn chính xác.

Nói gì thì nói, dư luận coi mòi ủng hộ bà Lan Anh, kể cả dư luận báo chí. Ủng hộ thì thào cũng là ủng hộ.

Bà Lan Anh bị khởi tố theo điều 263 Bộ luật Hình sự. Theo quy định, quá trình điều tra hành vi này không được gia hạn quá 2 lần: lần thứ nhất không quá 3 tháng, lần thứ hai không quá 2 tháng. Như vậy, kể từ thời điểm bị khởi tố bị can, trong vòng 9 tháng, nếu cơ quan điều tra không chứng minh được hành vi phạm tội của phóng viên Lan Anh thì phải ra quyết định đình chỉ điều tra.

Còn 9 tháng nữa ta mới biết mèo nào cắn mỉu nào.

Điều có thể thấy trước là mèo vàng không đời nào chịu thua. Còn mèo giấy thì không rách nát cũng xác xơ.

Trước mắt, công luận chỉ nhìn thấy một nắm đấm giơ cao:

- Hãy đợi đấy!

----- O -----

Vụ án chính trị siêu nghiêm trọng sẽ đi đến đâu ?

I. Theo tin tuyệt mật được tiết lộ. Trung tuần tháng 9 -2004, Uỷ ban kiểm tra Trung ương đã mời Lê Đức Anh đến để làm rõ một số vấn đề: "Ngày vào Đảng, chi bộ kết nạp và người giới thiệu". Lê Đức Anh vẫn thản nhiên trả lời: "vào Đảng 1938 ở chi bộ địa phương; người giới thiệu (Lê Đức Anh ấp úng nói bừa) không nhớ" !? Khi hỏi: "Từ năm 1938 đến 1945 hoạt động ở đâu và sinh hoạt chi bộ nào ?" Lê Đức Anh trả lời: "Lãnh đạo công nhân đồn điền cao su Phú Riềng. Mất liên lạc với Đảng" !? Rất khớp với lời khai ghi trong lý lịch đảng viên của Lê Đức Anh mà Ban tổ chức trung ương đã nắm được !

Chuyện bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Khi Lê Đức Anh xuất hiện nhiều trên Chính trường, có một người tên là Hồng đã nhận ra Lê Đức Anh chính là "Viên Cai Anh" ở đồn điền cao su Phú Riềng khét tiếng tàn ác, đã đánh ông mà trên lưng vẫn còn vết sẹo hằn sâu đến bây giờ. Ông đã viết đơn và trực tiếp mang đến Ban tổ chức Trung ương, tố cáo "Lê Đức Anh là cai phu đồn điền, không phải là đảng viên, nhưng đã chui vào Đảng..." ! UB KTTW đã đi điều tra xác minh. Kết quả : Đ/c bí thư chi bộ ở địa phương hồi đó đã khẳng định: "Từ 1938 đến 1945, chi bộ không kết nạp ai và trong chi bộ không có ai tên là Lê Đức Anh" ! Nhưng Lê Đức Thọ đã lờ đi ?

Chuyện rằng, mới đầu Lê Đức Anh khai vào Đảng năm 1932, nhưng vì thấy vô lý quá, nên "Đảng" chỉ đạo Lê Đức Anh khai rút lại vào Đảng 1938 ... (!?) (Đại Tướng Võ Nguyên Giáp vào Đảng 1940) rồi chính Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã chứng nhận: "Lời khai của đồng chí Lê Đức Anh là đúng sự thật !" Vì sao vậy. Xin nói rõ.

Theo tư liệu trong các đơn tố cáo lưu ở hồ sơ. Năm 1932, đ/c Ngô Gia Tự phát động phong trào cách mạng của công nhân cao su Sở Phú Riềng, đã bị khủng bố, đàn áp và hy sinh nhiều người... Sau đó tên Bazin là mật thám phòng Nhi Pháp (chef 2 ème Bureau Catinat) là chủ đồn điền cao su Phú Riềng rất tin cậy Lê Đức Anh và đã đưa Lê Đức Anh làm cai phu đồn điền (Surveillant), đánh đập công nhân rất tàn ác, đã cưỡng hiếp một nữ công nhân, mọi người thường gọi là "Viên Cai Anh" hoặc "Thày Sú Chột". Thực chất Lê Đức Anh, làm tay sai cho Phòng Nhì Pháp từ đấy.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945, Lê Đức Anh đã chạy theo Nhật và xin làm việc cho Nhật, được Nhật bố trí cho chui vào Trung đoàn do đồng chí Chu Huy Mân và Năm Ngà phụ trách, bằng cách lập ra một nhóm vũ trang đầy súng ống do Lê Đức Anh chỉ huy, giả vờ làm binh biến rồi kéo nhau chạy sang hàng ngũ cách mạng. Thế là mặc nhiên Lê Đức Anh trở thành chiến sĩ cách mạng tháng tám và "liên lạc" được với Đảng từ đó !. Nhưng Lê Đức Anh vẫn bí mật hoạt động làm tay sai, phụng sự cho đế quốc Pháp.

Sau vụ Xiêm Riệp 1983, Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ mang ơn là "Lê Lai cứu chúa". Lê Đức Thọ đã sớm phát hiện ra "Tài năng trẻ" Lê Đức Anh có thể kế tục sự nghiệp đánh đại tướng Võ Nguyên Giáp, nên gấp rút đầu tư bồi dưỡng cho Lê Đức Anh thăng tiến rất nhanh. Trước hết, muốn đánh được Võ Đại tướng thì ít ra Lê Đức Anh phải bằng, rồi phải hơn ông Giáp cả về tuổi Đảng lẫn chức vụ. Thế là, Lê Đức Anh từ đại tá cấp tốc được phong vượt cấp lên Trung Tướng rồi tiếp tục nhảy lên đại tướng khi quyết định chưa kịp ráo mực để giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng sau khi đại tướng Hoàng Văn Thái và đại tướng Lê Trọng Tấn lần lượt đột ngột chết !?. Khi đã bằng vai rồi, Lê Đức Anh gánh vác sứ mệnh mà Lê Đức Thọ bàn giao lại là tiếp tục ngấm ngầm đánh đại tướng Võ Nguyên Giáp đều bằng thủ đoạn vu cáo bỉ ổi. Khốn nạn nhất là vụ Sáu Sứ năm 1991 !. Nhiều kẻ bợ đỡ, xum xoe nịnh thần đã tôn Lê Đức Anh là "cutuzốp của Việt Nam" Hắn rất khoái và phổng mũi!

Rồi Lê Đức Anh được cất nhắc lên chức Chủ tịch nước. Thế là, "Thày Sú Chột" đã hơn ông Giáp cả về tuổi Đảng và chức vụ !. Xong xuôi. Năm 1995, Lê Đức Anh có dã tâm thâm độc hơn, gấp rút thực hiện mưu đồ chiến lược "xây dựng và phát triển vây cánh", bèn kéo Đặng Vũ Chính từ mặt trận 719 ra thay Nguyễn Như Văn (Tư Văn) làm Cục trưởng Cục 2 để lập nên một Vương Triều Vũ Chính theo sự chỉ đạo trực tiếp của Thái Thượng Hoàng. Bản chất vốn là một tên tay sai mật thám cáo già của Phòng Nhì Pháp, Lê Đức Anh đã khôn khéo nâng cục 2 lên thành Tổng cục 2 bằng pháp lệnh Tình báo do ông Nông Đức Mạnh, thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ký ngày 14/12/1996 và Nghị định 96/CP do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 11/9/1997. Điều 2, chương 1 của Pháp lệnh tình báo xác định: "Lực lượng tình báo Việt Nam... đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt..., sự thống lĩnh của Chủ tịch nước..." Thế là TC2 có quyền hạn vô biên, bao trùm lên cả công an. vụ T4 được khởi đầu từ đấy.

Và năm 1998, chính ông Đỗ Mười, nguyên Tổng bí thư nhân danh Đảng đã gắn tấm huy hiệu 60 năm tuổi Đảng cho Lê Đức Anh ! Vậy ai dám bảo Lê Đức Anh không phải ĐVCS ?!

Theo thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh ngày 17/6/2004, "Vụ T4 là một vụ án chính trị đặc biệt nghiêm trọng. Tổng cục 2 đã bịa ra một tên có bí danh là T4, đặc tình của TC2 nằm trong CIA để đưa tin vu khống chính trị nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp và nhiều cán bộ khác của Đảng và Nhà nước với hàng trăm bản tin (255 bản tin) (không kể báo cáo miệng). Vu khống cả một số tướng lĩnh trung thành và kiên cường chiến đấu trong kháng chiến, vu khống cả bản thân tôi (Nam Khánh). Nội dung vu khống chính trị là đưa tin: CIA đã nắm được, hoặc CIA đã tiếp cận được, đã cho người liên hệ, đã chỉ đạo các đồng chí..." bao gồm các vị đã và đang là TBT, UVBCT, UVTWD cho đến các vị giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước - có thể thống kê ra được gần 40 vị có quan hệ với CIA - chỉ xin liệt kê ra đây các vị đã và đang là TBT, UVBCT đã bị vu khống là: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Mai Chí Thọ, Trương Tấn Sang, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Trương Vĩnh Trọng, Phan Diễn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn An, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết. Trong số 14 vị UVBCT bị vu khống thống kê trên, nay chỉ còn 6 vị: Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Phan Diễn, Nguyễn Văn An, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết là đang đương chức.

Theo đơn tố cáo của đại tá Hùng Cường (Cường sứt), trong BCT hiện nay có 5 vị thuộc phái cực đoan là tay chân của Lê Đức Anh, gồm: Trần Đức Lương, Trần Đinh Hoan, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Văn Trà và Lê Hồng Anh. Vừa rồi dư luận xã hội đã xác định bổ sung thêm Phan Diễn nữa. Như vậy hiện nay đã có 6 UVBCT thuộc phái cực đoan là tay chân của Lê Đức Anh, nhưng chỉ có mỗi Phan Diễn bị "Đảng" vu khống !. Hóa ra, sau khi bị vu khống, Phan Diễn sợ quá, bèn vội quy phục và cam chịu làm thân phận tôi đòi !. 8 vị còn lại (Lê Minh Hương chết) không chịu làm tay chân cho Lê Đức Anh, thì có 5 vị bị vu khống (Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải, Nguyễn Văn An, Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang). Tôi xin nhắc lại: "Ai mà dấu diếm, bao che ngăn cản, không làm rõ sự thật của tội phạm là phạm pháp, vi phạm đường lối, bản chất, truyền thống và Điều lệ Đảng. Phát hiện kẻ tội phạm là có công" !.

Trước khi ra về, thượng tướng Nguyễn Nam Khánh nói: Tôi tưởng UB KTTW mới tôi đến đây để hỏi rõ thêm về "Vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" này và hỏi ý kiến về biện pháp giải quyết. Hóa ra là để truy hỏi tôi ! lần sau mà còn mời tôi đến để truy hỏi nữa. Tôi không đến đâu !".

Các cụ lão thành cách mạng, các tướng lĩnh, các CCB... nhận định: Từ nay cho đến trước Đại hội Đảng X, Bộ Chính trị sẽ phải có Thông báo gửi tới toàn Đảng, toàn dân về sự kiện này và phải nói rõ hướng giải quyết.

II. Theo nguồn tin tuyệt mật được tiết lộ

Nội dung Thông báo sẽ cực kỳ xấu !. Bởi vì, trung tuần tháng 10/2004 Trần Đức Lương đã nhóm họp Bộ Chính trị phái cực đoan mở rộng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười để nghe báo cáo, thảo luận, kết luận và thông qua một số vấn đề. Đáng chú ý mấy ý kiến sau:

1. Trần Đình Hoan báo cáo nội dung về lý lịch Đảng viên của Lê Đức Anh mà UBKTTW vừa xác minh lại qua "lời khai thành khẩn tự giác" của Lê Đức Anh, rồi kết luận: "Lý lịch đ/c Lê Đức Anh rõ ràng, trong sạch như đã ghi trong lý lịch đảng viên" (!?) Biểu quyết thông qua 6/6, rồi tất cả vỗ tay. Đỗ Mười chém mạnh tay vào không khí và hô "Đúng !" Lê Đức Anh cười nham nhở.

2. Phan Diễn báo cáo nội dung tình hình về cuộc gặp giữa UBKTTW với thượng tướng Nguyễn Nam Khánh (như trình bày ở trên).

3. Trần Đức Lương: Các đồng chí đã được đọc và nghiên cứu kỹ "Báo cáo tại Hội nghị Đảng ủy Quân sự Trung ương mở rộng, ngày 24/8/2004. Đây là bản báo cáo tổng hợp của Tổng cục 2 từ sau Đại hội Đảng IX cho đến nay. Tình hình chính trị của Đảng phức tạp và nguy ngập như thế đấy ! Ta phải hết sức quan tâm đến "Hoạt động của bọn cấp tiến, phản động trong và ngoài nước" nhằm mục đích đánh phá Đảng, kêu gọi lật đổ BCT ĐCSVN, đánh phá quân đội và công an: đặc biệt trực tiếp chống TC2 ngày càng quyết liệt, tiến tới đánh sập TC2. Chúng hi vọng nếu đánh phá được Đảng, làm cho BCT thêm mâu thuẫn, phân hóa, tự thanh trừ nhau; và nếu đánh phá được quân đội và công an, đặc biệt "đánh sập" được TC2 thì buộc Ban lãnh đạo Đảng đi đến tan rã và tự tuyên bố giải tán. (!) Sắp tới, BCT sẽ phân tích kỹ rồi sẽ thông qua Báo cáo tại Hội nghị ĐUQTTW mở rộng, ngày 24/8/2004. Tôi đề nghị các đồng chí chủ động phát biểu rõ quan điểm của mình.

Bình luận: Như Trần Đức Lương đã thừa nhận "Báo cáo tại Hội nghị ĐUQSTW mở rộng ngày 24/8/2004" là do TC2 thảo ra. Ta đọc thấy nội dung báo cáo sặc mùi vu khống và bịa đặt do Lê Đức Anh chỉ đạo.

Xin nói thẳng:

a. Chẳng ai muốn "đánh phá Đảng" của Bác Hồ cả. Nếu có muốn lật đổ BCT ĐCSVN thì chỉ lật đổ những kẻ cực đoan là tay chân của tên phản động Lê Đức Anh mà thôi.

b. Chẳng ai muốn và dám "đánh phá quân đội, công an, đặc biệt là TC2" cả! Trong các cuộc kháng chiến trước đây từ Pháp, Mỹ cho đến Tàu nữa đều không đánh thắng được QĐNDVN và lực lượng công an anh hùng, thì "bọn cấp tiến, phản động trong và ngoài nước" với lực lượng không đến 100 tên, chưa có quần chúng, không một tấc sắt trong tay thì làm sao có thể đánh phá, đánh sập" được Đảng, quân đội và Công an anh hùng cơ chứ ! Có chăng cần phải đánh đổ bọn Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh... cầm đầu TC2 và cha đẻ của nó là Lê Đức Anh mà thôi !

4. Nguyễn Khoa Điềm: Tôi được TC2 đưa cho nghe cuốn băng ghi âm Bùi Tín nói trong Đại hội toàn thế giới của Tập hợp Dân chủ Đa Nguyên lần thứ nhất tại Ba Lan ngày 28/7/2004. Xin mời các đồng chí nghe xem có đúng giọng Bùi Tín không ? Có đúng với nội dung mà TC2 đã gỡ băng để ghi trong "Báo cáo tại Hội nghị ĐUQSTW mở rộng, ngày 24/8/2004 không ?

Lê Đức Anh cúi gằm mặt xuống lắng nghe: "Tôi thông báo với các bạn một tin: ở cung đình Hà Nội đang có cuộc đấu tranh lớn, sống mái với đại tướng Lê Đức Anh, Lê Đức Anh đã dựng lên Tổng cục 2 năm 1995... cách đây 1 tuần chúng tôi nhận được 1 văn kiện, văn kiện đó dài 13 trang do thượng tướng Nam Khánh ký tên... tố cáo Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su, khai man để vào Đảng năm 1943, vào Đảng như vậy là phạm pháp, nhưng Anh được Lê Đức Thọ, Lê Duẩn che chở, nâng cao và đã ngoi lên chức cao nhất.. và bây giờ đã có chứng minh Lê Đức Anh là tên cai đồn điền và có tội ác với phu đồn điền, do đó nhân kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, các tướng của QĐNDVN đã kêu gọi, yêu cầu khẩn thiết BCT, Ban Kiểm tra Trung ương, Tòa án tối cao xét xử công khai vụ việc này.

Hiện nay, Ban lãnh đạo đang lúng túng về các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao thì mắc phải vấn đề nan giải này. Hơn một nửa số trong Bộ Chính trị muốn chỉ thị bóp nghẹt vụ này, giải quyết ở đằng sau hội trường vì sợ làm rung động nhân dân trong nước và thế giới, cho nên Lê Đức Anh đang khóc lóc trước Bộ Chính trị xin nhận hết tội lỗi và xin không đưa ra công khai vụ này vì không những xấu cho tôi mà còn xấu cho cả Đảng ta..." Tất cả những cái tin đó có trong thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh..." (!)

5. Đỗ Mười: Tôi đề nghị khai trừ Đảng đối với Nguyễn Nam Khánh và cắt hết tiêu chuẩn mà Đảng và nhà nước đã ưu ái dành cho Nam Khánh. Giao cho đ/c Phan Diễn tổ chức thực hiện như trước đây BCT đã giao cho Phạm Thế Duyệt tổ chức lãnh đạo khai trừ Đảng đối với Trần Độ. Ta không làm kiên quyết thì sẽ mất Đảng (!?) - Tay Đỗ Mười chém phăm phăm vào không khí.

6. Lê Đức Anh: Tôi còn được nghe TC2 báo cáo: "Nguyễn Gia Kiểng, Bùi Tín đã móc nối với Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Lê Hồng Hà, Hoàng Tiến... xúi dục Nguyễn Nam Khánh và một số tướng lĩnh để viết bức thư ngày 17/6/2004". Tôi đề nghị phải truy ra bằng được xem những ai tham gia viết bức thư đó để xử lý. Và tôi nhất trí hoàn toàn với ý kiến của đ/c Đỗ Mười. Còn đối với việc Võ Nguyên Giáp yêu cầu BCT giải quyết dứt điểm "Vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" trong lúc này là nhằm mục đích gây rối làm mất ổn định chính trị, đồng thời nhằm mục đích trả thù cá nhân. Vậy tôi đề nghị khai trừ Đảng đối với cả Võ Nguyên Giáp nữa. Có như thế mới thể hiện tính kỷ luật của Đảng nghiêm và thể hiện được sức mạnh lãnh đạo của tập thể BCT !

7. Phạm Văn Trà: Tôi đề nghị chúng ta cần cân nhắc cho kỹ. Khai trừ Đảng đối với đ/c Nguyễn Nam Khánh là dễ thôi. Làm như thế nào, các đ/c không sợ dư luận xã hội à ? Tôi e rằng sẽ dấy lên một cao trào phản ứng của các lão thành CM, các tướng lĩnh, các CCB và toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước, kể cả các nước trên thế giới nữa.

8. Phan Diễn: Đ/c Trà bảo khai trừ Đảng đối với đ/c Võ Nguyên Giáp và đ/c Nguyễn Nam Khánh là dễ thôi, nhưng khai trừ bằng cách nào cơ chứ ? Lấy gì cơ chứ ? Việc khai trừ Đảng đối với đ/c Trần Độ BCT lấy cớ là do "khác quan điểm" với Đảng. Rồi đến việc chỉ đạo tổ chức lễ tang đ/c Trần Độ nữa. Hậu quả như thế nào là chúng ta đã biết. Trung ương đã đánh giá việc khai trừ Đảng và việc tổ chức tang lễ đ/c Trần Độ là một số sai lầm quan trọng của BCT. Còn đối với đ/c Giáp và đ/c Nam Khánh, tôi chưa có cách nào và tìm ra cớ gì để khai trừ Đảng các đ/c ấy. Đề nghị các đồng chí cho biết ý kiến.

9. Trần Đức Lương: Theo tôi đối với đ/c Võ Nguyên Giáp, chúng ta không nên đặt vấn đề khai trừ Đảng. Rất không có lợi. Còn đối với đ/c Nam Khánh, như chúng ta đã trao đổi riêng với nhau là cần phải khai trừ Đảng, nhưng phải xét đến cái được cái mất, cái lợi cái hại.

Chúng ta phải suy nghĩ đến ý kiến của đ/c Trà và đ/c Phan Diễn vừa rồi. Sắp tới BCT sẽ họp, các đồng chí cứ mạnh dạn đưa ra ý kiến để tập thể BCT thảo luận rồi ra nghị quyết đối với đ/c Nam Khánh. Còn việc của đ/c Giáp đề nghị BCHTW, Bộ Chính trị giải quyết dứt điểm "vụ án”, tôi đề nghị kiên quyết giữa quan điểm như đ/c Phan Diễn đã nói rõ trong buổi trao đổi với đ/c Nam Khánh ngày 8/7/2004.

Đến đây kết thúc cuộc nhóm họp BCT phái cực đoan "mở rộng". Ông Lê Hồng Anh không phát biểu ý kiến gì.

Có lẽ bây giờ Lê Hồng Anh đã hiểu rõ một số vấn đề đang làm cho ông phải trăn trở suy nghĩ. Xin nêu ra để mọi người được biết:

Các cán bộ, chiến sĩ ngành Công an không ưa, không phục Lê Hồng Anh, vì ông trưởng thành không phải từ ngành Công an và chấp hành nhiều việc theo lệnh TC2.

Vụ Nguyễn Thái Nguyên Chấp, Diệu Hà ta quân của TC2 định bắt cóc bà Võ Thị Thắng với tội danh (vu khống) "là gián điệp của CIA". Thực chất TC2 có âm mưu lấn sáng chiếm sân của Công an ở Tổng cục Du lịch, nhưng công an rất tỉnh đã kịp thời phá án, Tòa án phải bóp méo sự thật để kết án 5 năm tù ngồi đối với Nguyên, Chấp, Vinh, Diệu Hà (xử năm 2000) về tội "khủng bố, tống tiền" ! TC2 phải cắn răng để cho Nguyên, Chấp, Vinh, Diệu Hà đi ngồi tù chỉ là một "nước cờ thí tốt hòng bịt đầu mối để bảo vệ tướng, bảo vệ kẻ chủ mưu chỉ đạo gây ra vụ T4". Thế mới biết "Thày Sú Chột" là một tay cao thủ !

Vụ khám nhà ông Lê Hồng Hà đêm 10/7/2004 lực lượng công an thì ít, mà quân TC2 thì nhiều, cũng như việc TC2 vu cho ông Lê Hồng Hà (nguyên chánh văn phòng Bộ Công an) xúi ông Nguyễn Nam Khánh viết thư... (như LĐA nói ở trên) là nhằm đánh vào uy tín để làm nhục công an.

Mới đây, ngày 18/10/2004 ông Nguyễn Tài AHLLVTND, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an có thư gửi Bộ Chính trị, BCH TWĐ... "về việc phải sửa chữa, chấm dứt ngay chức năng làm việc An Ninh của Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng" được dư luận rất hoan nghênh. Nhưng mấy ngày sau, có những người đóng giả xe ôm, khách qua đường... đến lân la ngồi quán nước ở gần nhà ông Nguyễn Tài, công khai cho mọi người đọc bức thư đó, rồi nói úp mở xa gần với giọng đe dọa để bắn đến tai ông Nguyễn Tài: "Tại sao ông Tài lại trõ sang việc của quân đội nhỉ ? Ai khiến ông ấy, Ông ấy không sợ bị "ăn đòn" à ?" !

Thế mới hiểu vì sao mấy ông Mai Chí Thọ, Bùi Thiện Ngộ, Nguyễn Khánh Toàn là "xếp của ngành công an bị TC2 vu khống, nhưng không dám lên tiếng (!?). Thế mới hiểu vì sao còn hơn 30 vị khác từ cỡ tầm tầm cho đến cỡ tai to mặt lớn bị TC2 vu khống, nhưng phải im hơi lặng tiếng (!?).

Bọn Khánh Trắng và bọn Năm Cam là những "băng nhóm xã hội đen" một thời hoành hành trong cuộc sống nhân dân đã bị pháp luật trừng trị và tiêu diệt. Còn bè lũ Lê Đức Anh, Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh cùng đồng bọn là "Băng đảng xã hội đen" nằm ngay trong lòng Đảng để nắm và điều hành vận mệnh Đảng,.. vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước... thì bao giờ bị tiêu diệt ???

Nỗi đau hiện nay của các cụ lão thành cách mạng, các tướng lĩnh, các CCB, các CA nghỉ hưu và các tầng lớp nhân dân Việt Nam đã chiến đấu, đổ máu và hy sinh... lại đang bị một thằng cai phu đồn điền làm tay sai cho giặc, mạo nhận là ĐVCS để chui vào ĐCSVN, rồi bây giờ nó lộng quyền, sai khiến, khống chế các vị chóp bu của Đảng. đó là điều xỉ nhục, là nỗi nhục, là vết nhơ đối với Đảng, đối với dân tộc, đối với đất nước mà ngàn đời không rửa sạch !

Hoàng Thảo Dân
Cựu SQ Công an bảo vệ
Số 4 Nguyễn Cảnh Chân, Ba Đình - Hà Nội

----- O -----

Lời ban biên tập: Tác giả của bài viết sau đây là ông Hoàng Tùng, một nhân vật cao cấp trong ĐCSVN. Ông đã từng giữ cương vị Tổng biên tập báo Nhân Dân, ủy viên trung ương Đảng, thường trực ban bí thư v.v... Đoạn hồi ký sau đây của ông trả lời cho ta nhiều câu hỏi: Khoảng thời gian 1934-1938 Nguyễn Ái Quốc làm gì ? Uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc Tế Cộng sản như thế nào ? Hà Huy Tập đã báo cáo gì với Quốc tế cộng sản về Nguyễn Ái Quốc ? Stalin có tín nhiệm Nguyễn Ái Quốc hay không ? Trung Quốc và Liên Xô có công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hay không ? Vì sao xảy ra cải cách ruộng đất đau lòng ? Thái độ của Hồ Chí Minh trong việc xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ? v.v…

Chúng tôi gửi tặng độc giả đoạn hồi kỳ này nhằm để bạn đọc quan tâm tới lịch sử Việt Nam cận đại có thêm tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, ban lãnh đạo ĐCS Việt Nam hiện tại không hoan nghênh hồi ký này, cho rằng tác giả đã để lộ nhiều bí mật của đảng, và như thế nó là một tài liệu “có hại”. Vì nhận định đó mà hồi ký của Hoàng Tùng đã không được phổ biến rộng rãi dưới hình thức in.

Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ

Hoàng Tùng

Tôi có khoảng thời gian gần 25 năm làm việc gần Bác. Tôi được biết một số việc, hoặc được nghe rồi nói lại cho các đồng chí. Có tài liệu các đồng chí có thể sử dụng được, có tài liệu các đồng chí nghiên cứu thêm. Trong khoảng thời gian 25 năm đó có 3 năm tôi công tác ở xứ, khu và tỉnh, còn tôi liên tục ở Trung ương, lúc đầu tôi làm phó trưởng ban Tổ chức Đảng vụ (cơ quan của Đảng lúc đó gọi như thế), tức là làm phó cho anh Lê Đức Thọ, sau là anh Lê Văn Lương. Sau tôi còn làm chánh văn phòng của đồng chí Trường Chinh, sau cùng là làm công tác Tuyên huấn, báo chí. Các công việc trên giúp tôi có điều kiện gần gũi Bác hơn. Các anh trong Bộ Chính trị cũng có nhiều người đi tù cùng tôi về. Tôi có may mắn được dự hầu hêt các phiên họp Bộ Chính trị hay Ban Bí thư­. Nhiều khi Bác bảo tôi làm việc này hay việc khác, tất nhiên là những việc nhỏ thôi. Khi Trung ương họp Bác thường hay ngó trông xem có thấy tôi ngồi ở phía sau không, bởi tôi làm công tác báo chí. Nhiều cuộc họp tôi bị Bác phê bình, nhưng nhiều lần được Bác khen. Hội nghị Trung ương, hội nghị các ngành, hội nghị quân sự, hội nghị cán bộ tôi đều dự cả. Nhiều chuyện tôi biết được từ các cuộc hội nghị này, cố nhiên không phải chuyện gì cũng biết, có chuyện tôi thật sự là nhân chứng, có chuyện thì tôi nghe lỏm được.

Tôi muốn kể lùi về quá khứ một chút. Vào những năm 1933-1934, khi tôi còn đang đi học, tôi biết hàng xóm nhà tôi có hai người bị bắt từ năm 1930 được tha về. Nghe đồn họ là cộng sản, họ nói giỏi lắm, tôi mới tìm đến. Họ nói Nguyễn Ái Quốc bị chết rồi. Lúc đó tôi còn nhỏ, nhưng nghe nói mất người đứng đầu thì cảm thấy gay go thật. Sau này tôi tham gia phong trào Dân chủ (1937-1938) cùng với nhiều người, sau có người vào Bộ Chính trị như Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng.

Đầu tháng 8-1945, anh Lê Đức Thọ được bổ sung vào Trung ương, là uỷ viên dự khuyết, phụ trách an toàn khu của Trung ương, kiêm cả Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, tức là người phụ tá trực tiếp của đồng chí Trường Chinh. Tôi được gọi về phụ trách khu an toàn của Trung ương và phụ trách trực tiếp khu ngoại thành Hà Nội. Tôi phụ trách khu an toàn A, còn khu B ở trên kia thì tôi không biết. Một hôm, anh Lê Đức Thọ nói với tôi là anh đi họp một cuộc Hội nghị quan trọng, dặn tôi ở nhà giữ gìn, trong nom cẩn thận công việc của Trung ương, sau này tôi mới biết là anh đi dự Hội nghị Tân Trào. Anh còn tiết lộ bí mật cho tôi biết chuyến đi này anh đi thế nào cũng gặp Nguyễn Ái Quốc.

Sau ngày 19/8, Hà Nội lập chính quyền cách mạng. Tôi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở ngoại thành, tham gia chỉ đạo khởi nghĩa ở Đông Anh, Phúc Yên, trực tiếp chỉ đạo việc lập chính quyền ở ngoại thành Hà Nội. Khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền được thành lập, Uỷ ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Hà Nội ra mắt. Tổ chức này ngang với thị trưởng Hà Nội trước đây thay Trần Văn Lai, thống sứ Bắc kỳ. Những người ra mắt toàn là học trò trung học Hà Nội cũ, như Trần Quang Huy ở trường Thăng Long, Nguyễn Duy Thân ở trường Bư­ởi, cùng với ông Vũ Kỳ... Hai cuộc ra mắt toàn là các cậu học trò kém tuổi tôi. Nhân dân Hà Nội xôn xao lắm. Họ nói lãnh tụ Việt Minh có thế thôi à! Tôi cũng sốt ruột. Khởi nghĩa xong họ bầu tôi làm chủ tịch, được 3 ngày tôi không làm nữa, vì lúc này tôi đang phụ trách an toàn khu của Trung ương.

Hàng ngày tôi ra Bắc Bộ phủ gặp anh Xuân Thuỷ và một số người khác. Họ hỏi tôi:

- Anh xem có cách nào đi tìm Trung ương về không, chứ thấy tình hình khó khăn lắm.

Dân không hiểu lãnh tụ Việt Minh là ai cả, chúng tôi thì còn trẻ lắm, tôi làm sao biết được để mời. Hàng ngày giải quyết công việc ở trong khu xong tôi lại đạp xe ra Bắc Bộ phủ xem tình hình thế nào. Chiều ngày 24/8 tôi trở về chỗ mình vẫn ở tức là khu an toàn, gặp khoảng hơn 10 người đang ăn cơm ở đình làng Phú Xá. Tôi thấy một cụ già có râu, ngồi cạnh có anh Trần Đăng Ninh. Bữa ăn của đoàn cán bộ chỉ có cơm gạo hẩm, canh m­ướp suông, mọi người ngồi trên chiếc phản ở đình làng Phú Xá. Anh Trần Đăng Ninh trước ở tù với tôi, tuy đã được bầu vào Trung ương nhưng chưa làm được ngày nào đã bị bắt, sau vượt ngục trốn về. Tôi biết ông cụ này được anh Trần Đăng Ninh đưa đi chắc phải to hơn Trung ương. Tôi nghe giọng Nghệ đoán chắc là Ông Cụ rồi. Ở đây tôi muốn nói thêm một chút thế này: Đêm hôm trước ngày Ông Cụ về, đoàn tự vệ ở Chèm có bắt được 4 người bên kia sông sang, bốn người đó hỏi phụ trách khu này là ai, khi biết tôi là Khánh phụ trách khu này, họ đề nghị cho gặp tôi. Tôi gặp chẳng phải ai xa lạ mà là anh Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Vũ Thụy Khôi, Nguyễn Văn Phư­ơng, tức Chu. Bốn người đi Tân Trào về. Họ nói chuyện về Hội nghị Tân Trào và cho tôi xem danh sách chính phủ lâm thời được dán khắp thành phố. Dân biết trong chính phủ có ông Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp. còn nhiều nhân vật khác nữa họ không biết như Nguyễn Văn Xuân, còn Nguyễn Lương Bằng thực sự dân cũng không biết, họ chi biết có đồng chí Sao Đỏ thôi.

Lại nói về chuyện gặp Bác ở đình Phú Xá. Hôm đó tôi cũng mặc bộ quần áo mùa thu bình thường như các vị ở đây thôi.
Bác nhìn tôi và hỏi anh Trần Đăng Ninh:
- Quan nào mà diện thế ?
Chuyện này sau được anh Trần Đăng Ninh nói lại tôi mới biết.

Như thế, trước khi về Hà Nội Bác đã chú ý tới cách ăn mặc của cán bộ ta, ý Bác muốn cán bộ cách mạng là phải ăn mặc giản dị, không được làm ra dáng ông quan cách mạng. Trong ý thức của Bác, cán bộ cách mạng, nhất là khi cách mạng mới thành công không thể ăn mặc diện được. Cơm nước xong, lúc đó cũng đã mưuộn, tôi mời Bác về nghỉ ở nhà tôi. Tôi mới chuyển sang nhà một bà chánh tổng, tức nhà ông chánh tổng Luân ở làng Gạ (Phú Gia) nhưng ông chết lâu rồi. Nhà này do chị Sáu cán bộ của đội công tác giới thiệu cho tôi. Nhà không to lắm, cũng đủ để chứa độ hơn 10 người. Nhà này kín đáo, tụt vào trong đê. Nhà ở Phú Xá ngay cạnh bờ đê không tiện. Tiện đây tôi muốn nói lại một chút. Có ai đó viết về Bác, nói về Bác mặc áo choàng hay áo gì đó là không phải. Bên ngoài Bác mặc chiếc áo của người thiểu số. Trời nóng nên Bác mặc quần cộc, tức quần soóc, túi áo có một đèn pin khoằm khoằm. Bác mới ốm dậy nên phải chống gậy.

Chủ nhà mời Bác nằm ở một chiếc sập gỗ, gỗ thường thôi, không phải gỗ gụ, ở trước bàn thờ. Anh Trần Đăng Ninh và một số người khác nằm ở hai gian bên cạnh. Tôi nằm trong buồng chủ nhà vẫn dành cho tôi. Quen kiểu đùa như trong nhà tù, tôi nói với Bác:

- Đồng chí nằm đây cho sướng cái thân già!
Sau anh Trần Đăng Ninh máy tôi ra ngoài, nói: “Ông cụ không thích đùa đâu!”.
Cố nhiên lúc đó tôi cũng đã biết ông cụ là ai rồi.
Bác nói (khi ấy chưa gọi là Bác, mà gọi là Cụ):
- Thế chú cùng nằm với tôi rồi chúng ta cùng nói chuyện.
Cụ hỏi tôi:
- Chiều nay đồng chí vào trong thành có nghe chuyện gì lạ không ?
Tôi nói:
-Thưa đồng chí, có hai việc, việc thứ nhất dư luận đang bàn tán Hồ chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc không ?
Cụ hỏi:
- Anh em mình trả lời thế nào ?
Tôi trả lời là anh em ta nói mập mờ. Không nói là phải, mà cũng không nói là không.
Cụ nói:
- Như thế là anh em mình nói đúng.
Cụ hỏi tôi việc thứ hai.
Tôi nói:
- Quân Trung Quốc đã đến, trông nhếch nhác lắm, mặc quần áo vàng bạc màu, chân quấn xà cạp, gánh cả nồi niêu, bát đĩa, lại có cả chó theo sau.
Cụ nói:
- Ấy, Đệ nhất phương diện quân của người ta đấy!
Tôi hỏi Cụ ý nghĩa của việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật bản. Cụ nói:
- Việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản thực ra không cần thiết nữa. Đây chính là Mỹ muốn đánh tín hiệu cho Liên Xô, rằng nếu không dừng lại thì tôi sẽ..”
Người nhận định Mỹ ném bom Nhật Bản là để cảnh cáo Liên Xô.

Nói đến việc Chính phủ về Hà Nội. Tình hình sẽ khó khăn, nếu không có người như Cụ ra mắt. vì lúc đó các thế lực khác sẵn sàng giương cờ lên, trong khi mình toàn những người “vô danh” cả.

Nguyễn Ái Quốc - Hồ chí Minh đã xuất hiện trong ngày 2 tháng 9 đàng hoàng và giản dị. Người đọc Tuyên ngôn Độc lập rõ ràng, giọng ấm cúng rất gần gũi với nhân dân. Từ đấy uy tín của cách mạng, của Việt Minh, của Đảng (tuy Đảng lúc đó chưa ra công khai) mới lan rộng. Sự thật thì các thế lực phản động cũng đã biết rõ. Tưởng, Pháp, Mỹ đã biết từ trước người đứng đầu lực l­ợng cách mạng là ai. Cánh Việt Quốc, Việt Cách cũng biết. Bọn chúng đều tập trung vào thực hiện âm mưu đánh đổ chính quyền của Đảng cộng sản, của Hồ Chí Minh, đưa Việt quốc, Việt Cách lên cầm quyền. Mũi nhọn đả kích của kẻ thù bên trong và bên ngoài đều chĩa vào Hồ chí Minh và Đảng cộng sản. Chúng lôi kéo Bảo Đại, tập hợp các lực l­ợng phản động chiếm Yên Bái, Vĩnh Yên, Hải Ninh (Móng Cái).

Bác nhận định tình hình thế giới từ trận ném bom của Mỹ xuống Nhật Bản. Bác có ý kiến ngay lập tức từ lúc Đảng ta mới giành được chính quyền. Người nói cán bộ cách mạng phải giản dị, sống gần gũi với quần chúng. Chính vì thế khi đồng chí Nguyễn Lương Bằng định chuẩn bị cho Bác một bộ quần áo t­ơm tất để ra mắt đồng bào nhưng Bác không nghe. Người yêu cầu may cho mình bộ quần áo kaki màu vàng, kiểu Tôn Trung Sơn. Từ đó Người mặc bộ quần áo này để tiếp khách, còn bình thường Người chỉ mặc bộ quần áo nâu. Kể thêm chuyện này để các đồng chí hiểu rõ thêm về Bác. Nghe nói khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi năm 1949, trên đường về Bắc Kinh Mao Trạch Đông đã làm bài thơ vịnh “Tuyết”, vì ông trông thấy nước Trung Hoa mênh mông, chỗ nào cũng thấy tuyết trắng xoá. Ông nói đất nước Trung Hoa hùng vĩ như thế này, trước kia đời Tần Thuỷ Hoàng ghê gớm lắm té ra cũng không bằng vô sản, không bằng mình đây. Trước khi đi, Mao Trạch Đông nói với những người chung quanh rằng: “Bây giờ chúng ta về làm vua”.

Sau đó anh Lê Đức Thọ có nói lại với tôi về việc Bác muốn chọn thư ký, anh Lê Đức Thọ giới thiệu 3 người: Trần Quang Huy, Nguyễn Chuẩn (tức Vũ Kỳ) và tôi. Sau khi cân nhắc Bác nói tôi có thể về làm Bí thư Hà Nội, anh Vũ Kỳ gần như suốt đời gắn bó với Bác.

Sau khi Bác về ít lâu, tôi được cử làm Bí thư Hà Nội, có lần tôi chủ trì một cuộc họp của thanh niên Hoàng Diệu (Hà Nội) ở Nhà hát lớn thành phố. Mọi người đến dự đông, chúng tôi ngỏ ý mời Bác. Người vui vẻ nhận lời. Bác gợi ý nên mời cố vấn Vĩnh Thuỵ. Tổ chức cuộc mít tinh chúng tôi không làm như bây giờ, không kê bàn chủ tịch lên sân khấu. Những người chủ trì hội nghị ngồi ở dưới. Trên sân khấu để 1 bàn, 2 ghế để Bác và cố vấn Vĩnh Thụy ngồi. Sau khi tuyên bố lý do, tôi mời cụ Chủ tịch (lúc đó gọi Bác như thế) cho ý kiến. Người lên nói tình hình của đất nước và nhiệm vụ của thanh niên. Tôi cũng chủ động mời ngài Cố vấn Vĩnh Thụy lên nói mấy lời, không ai nghe rõ.

Cảnh tượng trên sân khấu rât đối nghịch nhau. Một bên là một ông già mặc quần áo kaki giản dị. Bên kia là một ông béo tốt, bảnh bao, nhưng nói năng ấp úng. Một sự so sánh giữa một ông vua cũ và một ông chủ tịch mới.

Tưởng Giới Thạch điều Lư Hán sang làm tư lệnh để chuẩn bị tiếp quản vũ khí của quân dội Nhật ở Việt Nam. Đây là một âm mưu. Vì Long Vân là trùm quân phiệt ở Vân Nam. Nếu không có Lư­ Hàn thì Long Vân không làm được gì, vì ông ta vừa già vừa nghiện hút. Lư Hán là tay chân đắc lực của Long Vân. Tưởng điều Lư Hán đi khác nào điệu hổ lý sơn, để tước dần vây cánh của Long Vân. Nhưng Lư Hán thực sự cũng không có quyền bằng Tiêu Văn. Ai đó nói Tiêu văn là người có cảm tình với Bác là rất sai. Vì Tiêu Văn chính là người của Tưởng, làm công tác đảng... Tưởng cử Tiêu Văn sang Việt Nam với nhiệm vụ quan trong nhất là đánh đổ Việt Minh, đánh đổ Đảng cộng sản. Thế nhưng Tiêu Văn không làm được. Lư Hán càng không làm được. Việc cứ nấn ná mãi, Tưởng còn phái Tổng tham mưu trưởng là Hà Ứng Khâm (về chức tước gọi là Hà Bộ trưởng) sang. Bác chỉ thị cho chúng tôi tổ chức một cuộc mít tinh, diễu hành thật lớn để đón Hà bộ trưởng, nhưng thực chất là để thị uy. Chúng tôi huy động được nhiều người Hà Nội, khoảng hơn 10 vạn. Hà Ứng Khâm sang ở Phủ Toàn quyền. Bác nói tôi nhân danh nhân dân Hà Nội đón Hà Bộ trưởng, Bác bảo tôi cứ nói để Bác dịch cho. Tôi nói mấy câu đại loại hoan nghênh Hà Bộ trưởng, chúc tình hữu nghị. Bác dịch như thế nào tôi không rõ, vì lúc đó tôi không biết tiếng Trung Quốc. Ngày hôm sau Hà Bộ trưởng gặp Bác.. Bác hết sức gian khổ với bọn Lư Hán, Tiêu Văn và Tr­ương Sỹ Thu (Bí thư của Quốc dân đảng), với cánh Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh. Bọn chúng lập ra một tờ báo tên là Việt Nam ở phố Quan Thánh. Chúng bắc loa nói xấu Hồ Chí Minh.

Bác nói với đồng chí Trần Quốc Hoàn bảo tôi dẫn đầu một đoàn nhà báo đến phỏng vẫn Nguyễn Hải Thần. Người dặn rằng ông này không biết gì đâu, hay nói lung tung. Các đồng chí hỏi ông ta trả lời như thế nào ghi lại rồi đưa đăng báo. Tôi cùng với anh Thép Mới, Như Phong và cô gái Tuyết Minh đến xin gặp Nguyễn Hải Thần. Hôm đầu đến ông khất đến ngày mai. Hôm sau đến nữa thì ông dứt khoát từ chối. Nhân dịp tết Bác bảo chúng tôi: Hà Nội nên tổ chức một đoàn đại biểu đến chúc Tết ông Nguyễn Hải Thần. Lúc đó ông ta ở phố Hoàng Diệu, chỗ Đại sứ quán Trung Quốc bây giờ, cố vấn Vĩnh Thụy ở 51 Trần Hư­ng Đạo. Chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Hải Thần, bà vợ Tàu của ông cho biết ông mệt không tiếp ai cả. Đến nhà cố vấn Vĩnh Thụy, ông ở trên nhà xuống nói ấp úng mấy câu rồi chuồn, chứ không mời ngồi.

Về chuyện Bác đồng ý cho tôi làm Bí thư Hà Nội, rồi đến khi vì sai lầm của tôi mà Bác cho tôi nghỉ chức bí thư. Đài đưa tin Pháp ném bom Nam Bộ, Bộ trưởng thông tin tuyên truyền Trần Huy Liệu tuyên bố trên đài cảnh cáo người Pháp ở Nam Bộ rằng: “Nếu các người cứ tiếp tục ném bom Nam Bộ, thì chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm tính mạng những người Pháp ở Hà Nội”. Vì những người Pháp bị quân Nhật bắt giam ở Hà Nội, khi quân Tưởng và Mỹ đến đã thả hết ra. người Pháp hay ra phố đi chợ. Hôm sau đài của ta đưa tin quân Pháp lại ném bom Nam Bộ với giọng gay gắt. Thanh niên ở Hà Nội trong đó có Trần Lâm (sau làm Tổng giám đốc đài phát thanh) mới tổ chức nhau lại, ra phố Tràng Tiền, chợ Đồng Xuân, thấy người Pháp nào là đánh đến nơi. Họ cho người đến hỏi tôi lúc đó là Bí thư Hà Nội là làm như thế có được không? Hôm ấy anh Trần Quốc Hoàn bận họp hội nghị công nhân cứu quốc Bắc bộ. Tôi đến Bộ Tuyên truyền hỏi Trần Huy Liệu không gặp mà lại gặp anh Nguyễn Hải Triều. Anh Triều nói chính phủ đã quyết định rồi, cứ làm tới thôi. Chiều hôm đó Bác cho gọi tôi lên gặp Bác ở căn nhà lợp ngói đá ở Uỷ ban Nhân dân Hà Nội bây giờ, Người hỏi tôi tình tiết sự việc như thế nào. Tôi thật thà thuật lại mọi chuyện. Nghe xong Người không nói gì. Mấy ngày sau tôi được nghỉ chức Bí thư Hà Nội, nhưng vẫn ở Thành uỷ. Giữa năm sau, Bác cho tôi đi Hải Phòng làm Bí thư. Được ba tháng lại cho làm Xứ uỷ Bắc kỳ. Như thế khi gặp khuyết điểm thì Người phê bình, nhưng đến khi cần thì Người vẫn dùng. Chính sách dùng cán bộ của Bác là như thế.

Hồi đó còn chuyện này nữa. Chuyện này chắc ông Vũ Kỳ biết hơn tôi. Khoảng tháng 10 năm 1945, khi bà Bạch Liên, chị ruột của Bác, biết em mình trở về, đã ra Hà Nội muốn gặp. Gặp Bác, bà nắm tai Bác kéo lên và kêu: Đúng nó đây rồi! Bà nhận ra vì Bác có cái sẹo nhỏ ở tai, khi còn bé ở nhà câu cá, giựt câu bị l­ỡi câu mắc vào tai. Để bà ở Bắc bộ phủ thì không tiện, Bác nói tôi đưa bà về nhà tôi ở. Bà ăn trư­a, ngủ đêm ở nhà tôi, còn ban ngày đưa bà đi chơi thăm các nơi. Sau chuyến này tôi không biết bà có ra thăm Bác lần nào nữa không. Lúc đó tôi ở 23 Hàng Nón. Bà ra có mang theo biếu Bác hai chục trứng gà. Bác bảo đem luôn về nhà tôi.

Về quan hệ của Bác với bên ngoài. Vì quan hệ của ta với Trung Quốc và Liên Xô không được thuận tiện, cho nên khi chính quyền của ta được thành lập thì hai nước đều không công nhận. Trung Quốc thì quan hệ không chính thức. Hai người sang ta đầu tiên nhân danh Đảng mà cũng là Đảng địa phương thôi, đó là Chu Nam và Trang Điền. Một người là chính uỷ, một người là tư lệnh quân khu Hoa Nam sang nhờ ta giúp họ tiễu phỉ ở Thập Vạn Đại Sơn. Sau đó ta có cử một trung đoàn do Lê Quảng Ba phụ trách sang Trung Quốc. Các đồng chí Việt Nam ở Diên An và Trung Quốc sau khi thấy cách mạng Việt Nam thắng lợi thì xin về. Lúc đầu là Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Sơn, Lý Ban, Trương Ái Dân, Cao Tử Kiến. Trương Ái Dân trong thời gian kháng chiến chống Pháp làm công tác công vận ở Liên khu III, do tôi phụ trách. Đồng chí ấy nói với tôi rằng, sau cuộc khủng bố của Pháp năm 1930-1931 đồng chí ấy sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, được đi Diên An. Trong cuộc vận động chỉnh phong năm 1942-1943, đồng chí ấy bị thẩm vấn lý lịch. Người ta hỏi người đứng đầu Đảng cộng sản là ai? Đồng chí ấy trả lời là Trần Văn Giàu, liền bị chôn một nửa người xuống một hố sâu. Sau đó, không hiểu vì sao được thả. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí được về nước cùng với một số người nói trên. Cao Tử Kiến công tác ở Yên bái trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Sau khởi nghĩa ta mở một lớp huấn luyện ở Vạn Phúc cho cán bộ học. Tôi không được học. Nghe anh Lê Đức Thọ nói lại là đó là Hồng Lĩnh, tức Nguyễn Khánh Toàn, nói chẳng ai hiểu gì cả. Sau tôi nghe mấy người khác nói ông ta là một giáo sư giỏi lắm. Cả Bùi Công Trừng đi học ở Liên Xô về nói cũng thế cả. Về quan hệ với Liên Xô, tôi biết, Liên Xô, nhất là Stalin coi Bác là một người dân tộc chủ nghĩa cải lương từ năm 1928. Sau lại thêm việc Bác bị bắt ở Hồng Kông rồi lại được thả, khiến Liên Xô Nghi ngờ. Stalin không hiểu được lại có những người như Lôdơbai. Lại thêm việc Hà Huy Tập báo cáo. Anh Lê Duẩn có nói với tôi là Hà Huy Tập báo cáo với quốc tế về việc mật thám đưa bà Thanh đi Trung Quốc tìm Nguyễn Ái Quốc và ra nghị quyết phê phán sai lầm dân tộc chủ nghĩa cải lương của Nguyễn Ái Quốc. Bác đến Liên Xô năm 1934-1938 chỉ làm công tác ở ban thuộc địa của Quốc tế cộng sản, không được giao nhiệm vụ cụ thể. Người được giao nghiên cứu làm luận án phó tiến sĩ về vấn đề thuộc địa. Bác xin được làm nhưng không được trả lời. Người xin về nước. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII, Người không tham gia đoàn đại biểu Đảng ta, chỉ là đại biểu dự thính. Liên Xô vẫn cho rằng Việt Minh là một thế lực dân tộc chủ nghĩa. Họ không thấy Đảng cộng sản đâu, và vì sao Đảng cộng sản giải tán. Năm 1948, cả hai nước đều tìm hiểu xem Việt Nam là gi? Đảng ta cử Nguyễn Chương, cúng ở Xứ uỷ với tôi, làm phó cho Lê Đức Thọ sang Xiêm để tổ chức lại tổ chức của ta ở đó. Trong khu uỷ ở Khu Bốn mọi người mâu thuẫn với nhau, mà toàn những lão thành cả, như Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Hoan, Hồ Tùng Mậu, Trần Hữu Dực. Ông Hoàng Văn Hoan thì nổi tiếng về những chuyện kèn cựa ngay từ đầu. Ta cử Hoàng Văn Hoan bàn với Nguyễn Chương (có thể là do gợi ý của Trung Quốc) là cử Nguyễn Chư­ơng sang Trung Quốc để nghiên cứu. Nhưng thực tế Trung Quốc muốn qua Nguyễn Chương để tìm hiểu tình hình Việt Nam. Nguyễn Chương đến Trung Quốc báo cáo tình hình. Phương hướng báo cáo cũng hữu khuynh đúng như họ đánh giá, nói là ta dân tộc chủ nghĩa, đề cao địa chủ quan lại, không nêu cao vai trò của Đảng và Liên minh công nông. Đại diện của Liên Xô ở Praha, gặp 2 đại diện của ta là Trần Ngọc Danh và Lê Hy hỏi tình hình. Hai người này nói cùng khớp với Nguyễn Chương nói. Nói khớp như nhau bởi vì chúng tôi lúc đầu nghiên cứu theo cương lĩnh của đồng chí Trần Phú, nghĩa là cương lĩnh thứ hai của Quốc tế cộng sản, tức là làm cách mạng tư sản dân quyền, lấy công nông làm trụ cột, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lập chính quyền xô viết.. Chỉ đến khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Bác trực tiếp sang mới trình bày rõ vấn đề. Việc này tôi không được nghe trực tiếp, nghe anh Lê Văn Lương nói lại. Khi gặp Bác, L­ưu Thiếu Kỳ nói ngay rằng: “Các đồng chí giải tán Đảng, các đồng chí tưởng lừa được địch, nhưng địch không l­à được mà lại lừa chính chúng tôi, vì chúng tôi hiểu các đồng chí giải tán Đảng thật. Còn địch nó thừa hiểu các đồng chí không giải tán Đảng”. Hôm tuyên bố giải tán Đảng tôi không được dự. Nhưng nghe nói lại rằng, quyết định này của bác thật là táo bạo. Lúc đó không làm thế cũng nguy, vì âm mưu của Tưởng là đánh đổ Đảng cộng sản. Với bọn Lư Hán, Tiêu Văn, Đảng cộng sản tồn tại là nó chết, vì sẽ bị Tưởng trị. Nên ta mới lập mẹo tuyên bố giải tán Đảng, chỉ tuyên bố về danh nghĩa thôi, còn trên thực tế Đảng vẫn tồn tại. Khi đưa ra bàn tuyên bố giải tán Đảng ở Thường vụ, người không tán thành nhất là đồng chí Trường chinh. Sau Tưởng không có lý do gì thúc ép khi Đảng đã tuyên bố giải tán.

Sang Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang tới Liên Xô, Stalin lại đưa Bác vào qũy đạo của Stalin. Chuyến đi của Bác năm 1950 sang Trung Quốc và Liên Xô của bác là chuyến đi gian khổ. Stalin nói: “Bây giờ cách mạng Trung Quốc thắng lợi rồi, Trung Quốc có trách nhiệm giúp đỡ các nước phương Đông, còn Liên Xô có trách nhiệm giúp đỡ các nước châu Âu và châu Mỹ”. Trung Quốc nhận định như thế là do Quốc tế phân công Trung Quốc phụ trách châu Á. Bám vào ý kiến ấy, sau này Trung Quốc coi như là người đỡ đầu ta. Khó khăn ở bên ngoài là như thế. Tôi cho rằng vì lý do như thế mà mấy lần Bác từ chối làm Tổng bí thư. Ngoài việc Ban chấp hành Trung ương trong nước đã chỉ định đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư, có lẽ Bác cho rằng hội nghị Trung ương lần thứ 8 nếu Bác nhận làm Tổng bí thư thì Liên Xô sẽ gây chuyện. Từ Đại hội I ở Ma Cao Hà Huy Tập đã phê phán Bác như Quốc tế cộng sản đã phê. Bác không nhận là chủ tịch nước cũng là thật lòng chứ không khách khí. Sau này anh Lê Đức Thọ nói với tôi rằng khi đề nghị Bác làm chủ tịch nước Bác từ chối mãi. Bác nói mình là Chủ tịch nước à? Mình chỉ đứng đằng sau thôi! Còn tìm người khác làm. Người còn nói: nếu tìm khó quá cứ đưa Bảo Đại ra làm rồi mình thu xếp. Bác thực sự vì cách mạng chứ không vì mình. Đấy là về phía Liên Xô, Trung Quốc, còn về phía Đảng cộng sản Pháp, là Đảng thân thiết đối với ta, lúc đầu họ cũng cho rằng Việt Minh là phái thân Nhật chứ không phải là cộng sản. Năm 1950, Đảng cộng sản Pháp phái Léo Figuère uỷ viên dự khuyết của Trung ương, phụ trách tờ báo Thanh Niên sang điều tra tình hình của ta. Léo Figuère đến Việt Bắc. Về mặt chức vụ tôi cũng tương đương với anh, nên được cử tiếp anh. Cố nhiên là năm 1946, khi sang Pháp Bác cũng đã nói một phần nào rồi, nhưng Đảng cộng sản Pháp chưa thể hiểu hết. Léo Figuère muốn biết thực sự Đảng cộng sản còn tồn tại hay không, anh ta đi khắp các nơi, ở đâu cũng thấy có Đảng cộng sản, mà đảng viên Đảng cộng sản là những người lao động, những người công nhân, trí thức, còn quan lại địa chủ là tượng tr­ưng bên ngoài thôi. Từ đó Đảng cộng sản Pháp mới thực sự công nhận ta. Cũng từ đó mới có các phong trào ủng hộ Việt Nam. Trước đó Đảng cộng sản Pháp không làm gì để ủng hộ ta. Đó là khó khăn đối với Bác lúc bấy giờ.

Trong Đảng ta có hai nguồn đào tạo, một học ở Liên Xô về, một học ở Trung Quốc về. Do đó họ theo quan điểm hai nơi, có những ý kiến không giống nhau: đôi lúc hục hặc với nhau. Nhưng nói chung cả hai bên đều chịu Bác. Chỉ có Nguyễn Sơn về sau có vấn đề phải ra đi. Trước khi mất Nguyễn Sơn có tâm sự với tôi rằng sai lầm thì phê bình chứ sao lại đuổi đi. Ông ta trách Bác. Lúc đó tôi hỏi anh Võ Nguyên giáp, anh ta hay hục hặc như thế để anh ta làm phó cho anh có được không, Võ Nguyên Giáp nói làm thế nào được. Anh ta suốt ngày chửi tôi, anh ta còn phê bình Trường Nguyễn Ái Quốc rất ghê. Sau Bác nói chú Nguyễn Sơn hữu tài nhưng.... nên mời chú đi. Thực ra thì cái khó của hai nhóm này không hiểu được tư tưởng biện chứng mác-xít. Ta làm cách mạng ở một nước thuộc địa chứ không phải làm cách mạng ở một nước tư bản, hay quân phiệt nông dân như Trung Quốc. Vấn đề thống nhất dân tộc Việt Nam nhiều người không hiểu được, cho đến tận bây giờ nhiều người vẫn hiểu là phải nhấn mạnh liên minh công nông. Bác có lúc nói Đảng của giai cấp công nhân là theo thời cuộc và cũng là để chiều lòng người. Bác định nghĩa về Đảng đúng nhất là ở Đại hội II. Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, tức là của dân tộc Việt Nam. Bây giờ lại càng đúng, vì nông dân, công nhân có cách biệt gì lớn, không phải là giai cấp bị áp bức, cùng làm chủ cả, cùng là người lao động tự do, thêm một số trí thức nữa, chứ không phải chỉ có giai cấp công nhân vừa mới ra đời mấy chục năm nay. Bác hết sức sâu sắc nhưng Người không nói ra. Những bài viết, những bài phát biểu của Bác từ năm 1920 đến năm 1925 có phân tích sâu sắc, lý luận sắc bén. Sau này, từ cách mạng tháng Tám trở đi Người viết ngắn gọn đi thẳng vào vấn đề, không phân tích dài dòng để quần chúng dễ hiểu. Hai bên không hiểu, cứ “chiếu tướng” nhau rồi sinh chuyện. Nói Bác lý luận kém là hoàn toàn sai.

…. Trừ mấy trường hợp, như Trần Văn Giàu. Tôi được biết Trần Văn Giàu học ở Liên Xô về. Tôi biết có người tên là Phi Vân cũng học ở Liên Xô Về, vì h­ư hỏng bị đi tù ở Sơn La. Khoảng năm 1935, ở tù cùng Phi Vân tôi hỏi Phi Vân nhận xét về Nguyễn Ái Quốc, Phi Vân nói: “Ông này không có gì đâu, ở nhà cứ tưởng là nhân vật quan trọng lắm, chứ ông ta dân tộc chủ nghĩa, trình độ lý luận kém”. Đó là cách nhận định về Bác của mấy người đi Liên Xô về. Trần Văn Giàu thuộc loại nói trên. Có lần Tràn Văn Giàu nói với tôi năm 1932 về anh là Bí thư, sau khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại, anh em mình nhiều người bị bắt, anh đứng ra lập một tổ chức Tiên Phong, coi như nòng cốt của cách mạng. Khởi nghĩa ở Sài Gòn chính anh là người lãnh đạo. Còn ở Nam Bộ một số đồng chí của ta như Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập ra nắm vùng nông thôn. Ba người này ra ngoài Bắc dự Hội nghị Tân Trào. Nguyễn Thị Thập đến không kịp. Ung Văn Khiêm đến chỗ tôi rồi đi Tân Trào, chứ Trần Văn Giàu không được thừa nhận. Việc phân xử Trần Văn Giàu có các lớp đàn anh đi tù ở Côn Đảo về. Họ là bậc thầy ở Nam Bộ, là những người lãnh đạo quen thuộc của nhân dân Nam Bộ. Thế của Trần Văn giàu yếu đi, về sau điều Trần Văn Giàu đi Xiêm.

Sau khi gặp Stalin và Mao, hai bên cứ thúc ép Bác làm như họ, tức là liên minh công nông, do Đảng lãnh đạo, lập chính quyền công nông, rồi làm cải cách ruộng đất. Bác chưa muốn làm cải cách ruộng đất. Thuyết ba giai đoạn của đồng chí Trường chinh đưa ra ở Đại hội II là có ý kiến của Bác. Theo thuyết ba giai đoạn thì cải cách ruộng đất để sau, hãy làm giảm tổ, giảm tức. Đồng chí Trường Chinh phân tích rất hay. Năm 1946, họp Xứ uỷ tôi được nghe ông nói: “Dưới chính quyền cách mạng, những cải cách nhỏ đều có ý nghĩa cách mạng, nhiều cải cách nhỏ cộng lại thành cuộc cách mạng lớn”.

Mùa thu năm 1950, Trung Quốc phái hai đoàn cố vấn sang Việt Nam. Một đoàn chính trị do La Quý Ba làm cố vấn. La Quý Ba trước là Bí thư của Mao, Bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm chỉnh, phục Mao Trạch Đông như một ông thánh. Ông là người tin cẩn của Mao. Còn tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc Thanh. Đoàn cố vấn quân sự đông hơn, vì nó có đủ cả các bộ máy của quân sự. Ta không hiểu thâm ý của Trung Quốc là muốn “sửa” ta. Họ sang để giới thiệu kinh nghiệm Trung Quốc, lý luận Mao Trạch Đông, lý luận quân sự, tổ chức quân đội. Việc đầu tiên là họ “sửa” quân đội đã. Họ “sửa” cả Đảng trong quân đội cho nên mới lập ra chức chính uỷ. Trước ta chỉ có chính trị viên. Cũng là chính trị viên cả nhưng có khác nhau về chức năng. Chính uỷ là người bao trùm lên tư lệnh, chứ không phải tư lệnh là người quyết định. Lập ra chính uỷ là để xác định vị trí của Đảng, mà việc đầu tiên là nhằm vào ông Giáp. Vì ông Giáp xuất thân trí thức, năm 1950 mới có 10 tuổi Đảng, mặc dù ông tham gia cách mạng từ năm 1930, nhưng ông hoạt động bị bắt, rồi lại đi học, mãi đến năm 1940 mới được Bác kết nạp vào Đảng. Theo Trung Quốc ông là một trí thức xuất thân không phải công nông, mà để ông nắm quân sự là không ổn. Đặt ra chế độ chính uỷ là để phụ trách Đảng trong quân đội. Có người đưa cho đoàn cố vấn một danh sách cán bộ trong quân đội xuất thân gia đình không phải là công nông định để gạt ra ra khỏi quân đội. Ai đưa danh sách này cho đoàn cố vấn? Tôi ngờ rằng đó là một người trong quân đội, người này là Lý Ban, phó của Văn Tiến Dũng. Văn Tiến Dũng là cục trưởng, Lý Ban là cục phó. Ông Giáp mới đưa danh sách đó cho Bác, Bác bảo: “Đốt ngay đi, thay bằng ấy người thì quân đội không còn cán bộ”; Nguyễn Hữu An, Đặng Vũ Hiệp đều thuộc danh sách ấy cả, vì thuộc trí thức. Theo họ chấn chỉnh quân đội trước để chuyển mạnh sang Tổng phản công. Lúc đó ta tin tưởng quá nhiều vào Trung Quốc, vì các ông Trang Điền, Chu Hạ sang nói khi nào quân giải phóng Nam Hạ (đi xuống phía nam) thì sẽ giúp Việt Nam đánh Pháp.

Đầu năm 1950, Bác cùng Bộ Chính trị phân tích tình hình, mối quan hệ giữa thế và lực. Lực của ta còn yếu, mới có một đơn vị tổ chức thành đại đoàn 308. Còn lại là tiểu đoàn và trung đoàn. Lực Lương thực sự cũng yếu, Tổng phản công lúc này cũng khó; chỉ hy vọng ở cái thế. Bác đã viết trong “học đánh cờ”; lực yếu nhưng thế mạnh thì lực sẽ được tăng. Về lý luận thì đúng, nhưng còn trong điều kiện cụ thể lại khác. Nên ta tính năm 1950 chưa thể tổng phản công được. Vi Quốc Thanh chuẩn bị. Mọi việc nhất nhất xin ý kiến của Mao. Mùa thu năm 1950, ta đánh chiến dịch Biên giới - Đường số 4. Trần Canh trực tiếp sang giúp. Tôi nghe nói lúc đầu ta định đánh từ Cao Bằng (theo ý của ông Giáp). Trần Canh nói ta nên đánh Đông Khê. Vì Đông Khê là tuyến chính nhất ở trên này. Mà đánh vào điểm yếu thì cả phòng tuyến của địch sẽ bị rung. Đánh vào điểm mạnh thì ta chưa đủ sức. Đúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên giới. (Về điểm này nên xem lại “Đường số 4 rực lửa” của Đặng Văn Việt). Sau thắng lợi mới tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức của quân đội.

Thế là năm 1950-1951 đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội. Các chỗ khác họ chưa đụng tới. Đại hội Đảng ta năm 1951 đại biểu nước ngoài tới dự chỉ có La Quý Ba, bên Campuchia có Xiêng Hiêng (sau phản bội), phía Lào có một đại biểu. Tại Đại hội La Quý Ba phát biểu chủ yếu về thuế nông nghiệp. Sau đó bắt đầu đánh thuế. Họ đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh Đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau Đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất, chỉ thấy nói đến thuyết ba giai đoạn, vì thế nên mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện cải cách ruộng đất. Bác viết một bài nhan đề “Terre et Eau” (Đất và Nước) ký tên là Le Ding, đăng ở Tạp chí “Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ mới”. Bác nói đại ý: “Đất và Nước bao giờ cũng đi liền với nhau, muốn giải phóng nước phải đưa đất cho dân”. Bác nói khéo để nói lên việc phải cải cách ruộng đất. Năm 1952, Đảng ta không có đoàn nào dự Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô. Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung Quốc và Liên Xô về Bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung Quốc cử đoàn các cố vấn sang bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền. Đoàn cố vấn cải cách ruộng đất do Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó Bí thư tỉnh uỷ Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để “chỉnh đốn” lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ chính trị do đó cũng biêt một số việc. Đó là việc làm thí điểm cải cách ở đồng bằng và chọn đồn điền Nguyễn Thị Năm. Nguyễn thị Năm tức là Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp tuần lễ vàng có hiến 100 lạng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn Thị Năm cũng giống như các gia đình Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính trị Bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết chỉ các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến 1953, thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mầy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp dừng lại, nếu không thì tan nát hết. Sau này có những phiên họp Bộ Chính trị tôi hay ngồi lại cùng Bác nói chuyện, có lần bác trầm ngâm nói: “Mình đã nói để kháng chiến xong đã, mới tiến hành cải cách ruộng đât, cứ ép mãi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách ta, chứ không theo cách của họ”.

Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư ­ vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ điều đó chỉ đúng một phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn lan hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng bị đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách cải cách lúc đó là như thế. Do đó khi cách mạng tháng Tám thắng lợi không khí vui mừng đến như thế, mà chiến thắng Điện Biên Phủ không khí không được vui bằng.

Tôi nhớ có chuyện thế này, đầu năm 1951, lúc đó tôi là chánh văn phòng của Tổng bí thư nên được dự các cuộc họp của Thường vụ Trung ương. Trong một cuộc họp Thường vụ Trung ương, Bác nói Stalin không được như thế đâu, chỉ vì người ta cần có một ngọn cờ mà đưa lên như thế. Nghĩa là Bác biết rõ Stalin. Người không sùng bái, cũng như không sùng bái Mao Trạch Đông. Nhiều lúc Bác cũng phải ngoại giao. Cũng như Bác không thích gì Tưởng Giới Thạch, nhưng Bác vẫn dịch cuốn “Trung Quốc mệnh vận” do Tưởng viết, rổi đem biếu Trương Phát Khuê. Tranh thủ để giữ vững chính quyền, giảm được kẻ thù. Bác hết sức tinh trong nhìn nhận tình hình chính trị. Nhưng Người ít nói. Nhiều người không biết cứ tưởng bác mơ hồ trong vấn đề này khác. Chính trị Bác sắc sảo, nhưng Người rất ghét nói ba hoa. Bác bao giờ cũng vì dân, vì nước, chứ không vì cá nhân mình. Nhiều người sắc sảo nhưng lại vì bản thân mình nhiều, củng cố vị trí của mình nhiều hơn. Nếu người lãnh đạo cách mạng nào cũng được như Bác thì không bao giờ chính quyền bị đổ, vì Bác lúc nào cũng có Đảng, có dân, quan hệ với dân chặt chẽ không bao giờ làm điều gì vì mình, tất cả đều xuất phát vì nhân dân. Tôi cho rằng hiểu được Bác không phải dễ, làm theo Bác càng khó hơn.

Sau chiến thắng 1954, Bác gọi tôi đến và căn dặn: “Ta chiến thắng rồi công tác tuyên truyền chỉ nên biểu dương tinh thần anh dũng của quân và dân ta, không nên sỉ nhục Pháp. Vì như thế sẽ khích động tinh thần tự ái dân tộc của họ. Sau này đối với Mỹ, Bác cũng căn dặn như thế.

Tháng 10 năm 1956, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng bí thư, vì sai lầm trong cải cách ruộng đất, Trung ương bàu đồng chí Lê Duẩn làm Tổng bí thư, lúc này đồng chí Lê Duẩn vẫn ở Nam Bộ. Trong lúc chờ đồng chí Lê Duẩn ra nhận chức Tổng bí thư, Trung ương đề nghị Bác làm Chủ tịch, tạm kiêm nhiệm chức Tổng bí thư. Để giúp Người giải quyêt công việc hàng ngày, Trung ương cử đồng chí Võ Nguyên Giáp sang giúp Bác. Ngoài ra còn có công việc chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng với đồng chí Trần Quang Huy, Hoàng Tùng chuẩn bị sơ bộ một bản đề cương báo cáo chính trị. Khi đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội làm nhiệm vụ Tông Bí thư, đồng chí trực tiếp giải quyết mọi công việc của Trung ương cùng Bác. Đồng chí bắt tay vào việc chuẩn bị cho Báo cáo chính trị tại Đại hội. Giúp cho đồng chí Lê Duẩn trong những công việc này có Trần Quang Huy, Hoàng Văn Thái, Hoàng Tùng. Đồng chí Lê Duẩn làm việc liên tục cùng các đồng chí trên ở nhà số 6 phố Hoàng Diệu.

Đồng chí Lê Đuẩn phân tích tình hình miền Nam từ năm 1954 đến lúc đó và trình bầy có hệ thống đường lối giải phóng miền Nam. Đồng chí viết thành dự thảo Nghị quyết trình Bác và Bộ chính trị thảo luận. Trong quá trình chuẩn bị các đồng chí Quân uỷ Trung ương cũng tham gia thảo luận, góp thêm nhiều ý kliến. Quá trình chuẩn bị Nghị quyêt này kéo dài gần một năm.

Về cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1968, Người đưa ra sáng kiến này là đồng chí Lê Duẩn, sau khi đã trực tiếp chỉ đạo mọi mặt công tác ở miền Nam từ năm 1958 (nói đúng hơn là từ năm 1946 đến 1954 và từ năm 1954 đến năm 1957). Bộ Chính trị và Bác quyêt định mục tiêu, phương hướng và các vấn đề khác của chiến dịch. Cuối năm 1967, Bác đi chữa bệnh ở Trung Quốc. Giáp Tết, Trung ương họp ở Kim Bôi quyết định mở chiến dịch này. Đồng chí Lê Duẩn trực tiếp chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị chiến dịch này ở cả hai miền cùng với Quân uỷ Trung ương và Trung ương cục miền Nam.

Sau đây tôi kể thêm một số kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên. Khi Bác đi Liễu Châu gập Chu Ân Lai, thì ở nhà chị Bác (bà Bạch Liên) qua đời. Lúc đó Bác cùng Bộ Chính trị đóng tại xã Kim Quan, huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang. Nhận được điện báo từ khu Bốn đánh ra, tôi báo cáo anh Trường Chinh, anh Trường Chinh ngậm ngùi nhưng không nói phải làm gì. Khi Bác về tôi báo cáo lại. Bác hỏi tôi: “Thế các chú có nhân danh Bác điện vào chia buồn và xin lỗi gia đình và địa phương là Bác bận việc không về được không? Tôi trả lời: “Th­ưa Bác, không ạ”. Bác nói: “Các chú ngốc quá”.

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Bác giao cho tôi tham gia chuẩn bị Hội nghị chính trị đặc biệt. Bác cho phép tôi được góp ý kiến vào bài nói của Người tại Hội nghị và bồi dưỡng cho một số người phát biểu tại Hội nghị trong đó có anh hùng Núp.

Năm 1968 Bác có vịệc phải ra nước ngoài, ở nhà Ban Bí thư mà cụ thể là đồng chí Tố Hữu có chủ trương dong bọn giặc lái Mỹ mà ta bắt được đi diễu qua các đường phố để cảnh cáo Mỹ. Khi về Bác hỏi: “Vì sao các chú lại làm một việc dại dột như thế?” Tôi thành thật báo cáo Bác là mình không tham gia việc này. Bác nói luôn rằng tôi cũng ở trong Trung Ương mà lại không chịu trách nhiệm sao được, dư luận thế giới sẽ không đồng tình về việc làm của ta.

Bác đọc báo thấy các báo đưa tin Bộ Văn hoá đúc tượng nửa người của Bác bằng đồng (việc này do đòng chí Hà Huy Giáp quyêt định). Bác hỏi tôi, (vì lúc đó tôi làm công tác tuyên truyền): “Ai cho phép các chú làm? Đồng để dùng vào việc quân, không phải để tạc tượng”.

Từ khi tôi phụ trách báo Nhân Dân và một phần công tác của Ban Tuyên huấn, tôi thường xuyên được Bác dạy bảo, phê bình, cho chỉ thị công tác, khi gặp trực tiếp, khi gọi qua điện thoại, hoặc qua các đồng chí khác. Bác dạy tôi cả kinh nghiệm viết báo. Bác viết khá đều đặn cho báo Sự Thật, báo Nhân Dân. Những bài viêt của Bác báo Nhân Dân đã tập hợp lại. Tuy nhiên bản thảo của Bác giữ lại không nhiều.

Tháng 7 năm 1969 tôi đưa Charles Fourniau, phóng viên thường trú báo L’Humanité đến phỏng vấn Bác. Hai người phóng viên cuối cùng tôi đưa đến phỏng vấn Bác là Marta Rohad của Cuba và Charles Fourniau. Bác cho gọi tôi lên sớm để góp ý kiến về những câu trả lời.Tôi nói chắc đồng chí đó sẽ hỏi cảm tưởng của Bác khi Người vào tuổi 80. Bác nổi nóng, dồn cho tôi một hồi. Người nói chúng tôi tại sao lại bày ra việc kỷ niệm 80 tuổi, so với Các Mác, Lênin, chỉ là con cháu thôi, các chú tưởng rằng Bác cũng như người khác hay sao? Vì lúc bấy giờ không khí chống sùng bái cá nhân rât kinh khủng. Đúng lúc đó thì Charles Fourniau vào. Chuyện của hai Bác cháu tạm dừng. Nhưng chủ đề câu chuyện Charles Fourniau hỏi Bác hôm đó lại về chuyến đi của Bác từ Pháp sang Liên Xô năm 1923. Sau buổi làm việc khi Charles Fourniau về rồi, Bác gọi tôi vào, và dường như Người đã quên chuyện lúc trước, Người chỉ vào trong nhà và nói: “Trong tủ lạnh có nhiều thứ, chú vào lấy mà ăn”.

Một kỷ niệm không bao giờ quên đối với tôi là trước khi vĩnh biệt chúng ta mấy ngày Bác cho gọi tôi vào, Người giơ tay cho tôi nắm rất lâu. Khi Bác mất tôi được tham gia công việc tổ chức tang lễ. Túc trực bên quan tài của Người. Tôi viết phần tiểu sử của Người. Còn bài điếu văn tôi viết dài quá, anh Lê Duẩn bảo Đông Ngạc viết lại.

Tìm hiểu về Bác tôi thấy Bác có 10 nỗi đau lớn.

Một là gia đình tan nát. Mẹ và người em út mất sớm vì nhà nghèo không đủ tiền mưua thuốc, không ai chăm sóc, trong lúc bố đi vắng. Cụ Nguyễn Sinh Sắc bị thù oán nên bị hại. Tính cụ ngay thẳng, phê phán thẳng thắn những người xấu và làm theo ý mình cho là phải. Bọn quan lại ghét cụ. Nhân có một người bị phạm tôi đưa đến, lệ ngày x­a trước khi xử án phải nọc người đó mấy chục roi trước. Chẳng may người phạm tội bị bệnh từ trước nên sau khi bị đánh trả về một thời gian người ta chết. Nhân việc này trên mới cách chức cụ và đầy đi biệt xứ. Còn ông anh và bà chị Bác cũng bị tù đày, rồi sau mất sớm.

Nỗi đau thứ hai là: sau vụ chính biến Tưởng Giới Thạch, Bác đi Liên Xô. Trước đó Bác phụ trách các nước Đông Nam Á của Quốc tế cộng sản. Bác có đi dự Đại hội V Quốc tế cộng sản nhưng không được bầu vào Ban chấp hành. Lần này sang, do cách hoạt động của mình Bác bị Liên Xô nghi ngờ là chưa đủ tiêu chuẩn cộng sản. Sang Liên Xô Bác không được giao việc gì cả, không có chức vụ chính thức trong tổ chức quốc tế. Bác xin về, họ không cho tiền. Sau Bác phải đi xin bạn bè tiền để về. Bác về Xiêm tìm đến các gia đính người Nghệ như gia đình cụ Đặng Thúc Hứa, Bác hoạt động trong Việt kiều. Sau Bác có sang cả Lào để gây dựng cơ sở ở đó. như thế việc Bác về Xiêm là do Bác chủ động chứ không phải do Quốc tế phân công. Nghe tin ở nước nhà giải tán Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội, để lập Đảng cộng sản, Bác cho rằng chưa phải lúc. Bác cho rằng, lúc đầu hãy tập hợp thanh niên và giương cao ngọn cờ yêu nước đã. Có tổ chức Đảng cộng sản chỉ là tổ chức bí mật chứ chưa đưa Đảng cộng sản ra và nói đấu tranh giai cấp vội, cứ nói đánh Tây cho quần chúng dễ hiểu. Theo tôi vì sao lại lập Đảng cộng sản? Chuyện này có lẽ bắt nguồn từ Đảng cộng sản Pháp. Đảng cộng sản Pháp sợ liên lụy không dám bênh vực phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa nữa. Sau cách mạng tháng Mười, hai người cộng sản Pháp sang Liên Xô gặp Lênin và Phrôtxa và Cachin. Phrôtxa không đồng ý với Lênin một số điểm cho nên về nước không được dùng mà chỉ có Cachin mới được dùng. Những điều này tôi đoán lúc đầu Bác không biết, vì lúc đó Bác đang là một nhà cách mạng chân thành, trong sáng, không nghĩ đến những điều phức tạp bên trong.

Đảng cộng sản Pháp cho rằng bác không lập ra Đảng cộng sản mà chỉ tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, lại phê phán Đảng cộng sản Pháp khá nhiều, trên báo chí và ở Đại hội Quốc tế cộng sản Đảng cộng sản Pháp l­ưu ý không tán thành Bác. Năm 1923, Nguyễn Văn Tạo là học sinh bãi khoá ở Sài gòn được sang Pháp học, được kết nạp vào Đảng cộng sản Pháp, rồi vào Trung ương ngay. Nguyễn Ái Quốc không được bàu vào Trung ương, Bác làm ở Ban Thuộc địa, Đảng cộng sản Pháp cử 3 người trong đoàn Pháp sang dự Đại hội thứ VI Quốc tế cộng sản trong đó có Nguyễn Văn Tạo. Nguyễn Văn Tạo đề nghị là ở Đông Dư­ơng điều kiện đã chín mưồi, đề nghị cho thành lập Đảng cộng sản. Sau đó mới tác động đến nhóm Bắc Kỳ - Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, ba người hăng hái nhất lập ra chi bộ Đông Dư­ơng cộng sản Đảng, đề nghị giải tán Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Việc đó chính là phê phán Nguyễn Ái Quốc, hay gọi là sự sửa sai đối với Nguyễn Ái Quốc. Nhưng Bác vẫn im lặng tìm cách sửa sai việc đã rồi, vì ba tổ chức tìm cách chống nhau gây chia rẽ. Sau Lê Văn Lương nói với tôi là khi Bác về Trịnh Đình Cửu có hỏi Bác giấy uỷ nhiệm của Quốc tế cộng sản, vì Bác nói là Quốc tế cử về. Bác nói: “Đồng chí thử tưởng tượng xem nếu tôi mang trong người giấy uỷ nhiệm của Quốc tế cộng sản thì liệu tôi có về được đến đây không ?”

Trong số những người dự hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản có Lê Hồng Sơn, Đông Dương cộng sản đảng. Có người nói không có Đông Dương cộng sản đảng là không đúng. Người sáng lập An Nam Cộng sản Đảng là Hà Huy Giáp, nhưng anh theo quan điểm công nông, đưa công nhân lên là chính, nên mới đưa Hạ Bá Cang lên. Hạ Bá Cang, Nguyễn Thiều, Châu Văn Liêm được cử đi dự Hội nghị hợp nhất, nhưng sau đó Hạ Bá Cang bị bắt ở Hài Phòng nên không dự được. Đại diện cho Bắc kỳ là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh. Bác đưa ra chính cương vắn tát và điều lệ vắn tát, thật sự là Bác đã trở lại đường cách mạng với 3 mục tiêu: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Mà dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc chính là tư tưởng của Tôn Văn. Nhưng cách thực hiện khác hoàn toàn. Tôn Văn dùng cách mạng tư sản, bác là làm cách mạng nhân dân, cách mạng quần chúng rồi tiến dần lên cách mạng chủ nghĩa xã hội thật sự. Bác nói là làm từ từ, dần dần. Tiến lên chủ nghĩa xã hội ngay làm sao được với một nước có nền nông nghiệp lạc hâu. Mẫu của Stalin không phải đâu cũng áp dụng như thế. Nhiều ông cách mạng còn trẻ kinh nghiêm it cứ tin theo sách, nhưng bác không khờ như thế.

Năm 1931-1932, ở Hư­ơng Cảng Bác không có chức vụ gì, nhưng vì sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho Quốc tế Cộng sản đề nghị giao việc, vì thời gian đó bác chỉ làm nhiệm vụ như một hộp thư­. Đường giao thông của ta với Pháp bị vỡ do một anh thuỷ thủ người Pháp bị bắt khai ra. Khi tôi ở trong tù thì được thông báo cho biết là Trần Văn Giàu bị bắt khai ra đường dây. Nhưng sau này tôi hỏi lịch sử Đảng Sài gòn, họ nói có tài liệu chứng minh là không phải Trần Văn Giàu khai. Mật thám tìm được chỗ Bác ở và bắt Bác. Việc Bác được tha là nhờ luật sư Loseby. Ông luật sư cãi cho bác là ông Stafe Krip (thực tế là Nowen Krip), sau này ông là bộ trưởng dưới thời thủ tướng Churchill. Việc Bác bị bắt rồi lại được tha Liên Xô không hiểu, họ nghi ngờ có điều gì phức tạp trong vụ án. Tại sao lãnh tụ cộng sản mà được đế quốc tha yên ổn, cho nên trong vòng 4 năm họ không giao việc gì. Bác là nhân viên thường ở Ban Thuộc đia. Sau đó Bác nhận làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ, nhưng Người rất chán. Đại hội VII của Quốc tế cộng sản Bác không có cương vị gì cả. Đại hội lần thứ nhất của Đảng ta họp trước đó, bầu Bác là Uỷ viên dự khuyết, và còn ghi rõ chỉ là công tác ở nước ngoài. Chính vì thế nên Bác không có tên trong đoàn đại biểu của Đảng ta sang dự đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VII. Đoàn đại biểu của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong. Sau khi xin việc mãi không được, Bác xin về nước. Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt Nam, người này có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suýt bị hại vì những chuyện lôi thôi này. Ông lãnh tụ Nhật bản Nasaka Sanzo cùng bị làm rầy rà. Những chuyện này Bác biết cả.

Thời gian này quan hệ với Trung Quốc không gay go, vì tình bạn của Bác với Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Diệp Kiếm Anh.. khi Bác ở Quảng Châu là thân thiết. Năm 1938-1939 Chu Ân Lai cũng giúp đỡ Bác nhiều, chỉ có sau này với Mao Trạch Đông là Bác gặp khó khăn thôi.

Về việc Bác bị bắt năm 1942 ở Trung Quốc tôi được biết như sau: Chuyện này do Hoàng Điền, đại tá về hư­u, người được dự các lớp huấn luyện ở Liễu Châu năm 1944, nói với tôi. Mục đích chuyến đi này của bác là gặp Chu Ân Lai để hỏi thăm tình hình quốc tế. Lúc Bác bị bắt trong người có tấm danh thiếp: Hô Chí Minh - Việt Nam hoa kiều ký giả và một số giấy tờ khác. Hoàng Điền nói: Trương Bội Công đứng đầu bọn tình báo của Trương Phát Khuê đã bố trí Trần Báo ở với những người cách mạng của ta thường đi qua để bắt. Tên này là em bà Ngô Khổn Duy, vợ ông Hồ Học Lãm, người đã biết rõ Bác Hồ. Bác bị hành hạ khổ sở. Nhưng nỗi đau nhất của Bác là Người bị bắt trong lúc tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động. Nếu ở nhà lúc đó không có anh Trường Chinh thì thật sự chúng ta cũng không có ngày nay đâu. Tả lại phần nào nỗi đau của mình trong những ngày bị bắt giữ, Bác có viết bài thơ: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do”. Càng cay đắng hơn là Bác bị bắt trong lúc cách mạng rất cần Người. Nỗi đau thứ tư là sau năm 1945 Liên Xô, Trung Quốc không công nhận ta, Đảng cộng sản Pháp cũng nghi ngờ.

Nỗi đau thứ năm là 1950-1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang phê phán gay gắt, buộc phải thay đổi đường lối dẫn ta đến sai lầm trong cải cách ruộng đất. Tuy nhiên Trung Quốc giúp ta chỉnh lại quân đội có phần đúng. Mục đích của họ là sửa lại cả quân sự, chính trị, tổ chức, cách dùng người. Nhân nói về chính sách dùng người của Bác tôi muốn kể chuyện này. Có lần trong một cuộc hội nghị về công tác tổ chức, Lý Ban nói: “Đối với con cán bộ khi kết nạp vào Đảng không cần phải thời gian dự bị, mà được chính thức ngay”. Bác nói ngay: “Chú nói như thế không đúng. Đối với người cách mạng phải xem cụ thể người ấy như thế nào. Vì có chuyện hổ phụ sinh khuyển tử, tức là hổ đẻ ra con là chó như Phan Bá Ngọc là con của Phan Đình Phùng đã đưa mật thám bắt Phan Bội Châu. Nhưng cũng có nhứng địa chủ lớn như Bành Bái, địa chủ nổi tiếng ở tỉnh Quảng Đông lại là người tiến bộ, Đảng cộng sản coi là anh hùng. Cho nên không được máy móc, không được xem nguồn gốc xuất thân, lý lịch làm quan trọng”.

Họ “sửa” khá nhiều nên Bác đau lòng. Bao nhiêu nhân sĩ Bác lôi kéo tranh thủ, sau đó phải gạt hết, có những người còn bị đấu tố nữa.

Nỗi đau thứ sáu là Bác không ngờ Liên Xô và Trung Quốc lại xung đột, mẫu thuẫn đến gay gắt như thế. Bác nói phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc lãnh đạo. Nhưng Liên Xô và Trung Quốc cùng lãnh đạo thế nào được. Một nước chỉ có một mặt trời. Mao Trạch Đông là mặt trời hay Stalin là mặt trời đây. Liên Xô hay Trung Quốc đứng đầu lãnh đạo. Chỉ có một mà thôi. Hai bên xung đột nên bên nào cũng muốn lôi kéo Bác về phía mình. Bác bị giằng xé trong suốt những năm cuối của cuộc đời.

Nỗi đau thứ bẩy là sự bất hoà giữa mấy người lãnh đạo của ta. Không phải mọi việc đều êm đẹp cả. Họ nhất trí với nhau về quan điểm đánh Mỹ, nhưng quan điểm quốc tế không thống nhất, về quan hệ cá nhân với nhau không thuận lợi. Sau này Bác bảo tôi viết bài: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Ý Bác là muốn nói mấy ông này. Bài đó tôi viết Bác sửa lại nhiều. Sau Bác nói anh Tố Hữu cũng sửa nữa. Tôi được biết từ năm 1966, cứ mỗi chiều thứ bẩy, Bác lại cho làm cơm và nói: “Mấy chú cứ đến đây ăn cơm vui vẻ với nhau, có gì khúc mắc cứ nói hêt ra, không nên để bụng”. Anh Nguyễn Chí Thanh làm thư ký cho những cuộc đó cho đến khi anh đi vào Nam. Sau anh Lê Văn Lương nói lại với tôi là họ cứ đến ăn cơm, chén hết rồi họ về, chẳng ai nói với ai điều gì. Nếu không biết việc này thì không hiểu hết tại sao trong di chúc Bác lại dặn phải đoàn kết toàn Đảng, từ Trung ương đến đia phương. Trên mà đã đoàn kết rồi thì cần gì nói đến cơ sở nữa. Trên đoàn kết mà dưới không thì lôi thôi to, các ông trị cho chết. Chính vì thế mà bác rất buồn. Có thể có một vài hiện tượng, có đồng chí nào đó muốn vượt Bác, Bác biết hết, nhưng Bác không quan tâm.

Nỗi đau thứ tám là tình hình trong nước và thế giới trước khi Bác qua đời đều căng thẳng, nên đầu óc Bác không được thư thái. Cuộc kháng chiến chông Mỹ kéo dài, nhân dân ta hy sinh nhiểu của, nhiều người, Bác rất đau lòng. Tuy Bác nói là Trường kỳ kháng chiến nhưng thực sự Bác không muốn cuộc chiến tranh phải kéo dài. Từ đầu đến cuối Bác không muốn có chiến tranh. Cho nên mới có cuộc hoà hoãn với Pháp. Đối với Mỹ cũng thế, Bác muốn tranh thủ, nhưng không được mới phải đánh. Cộng thêm những năm tháng ốm đau kéo dài (trên 3 năm), có lúc Người cáu gắt cũng vì lẽ đó. Tất cả những nỗi đau này Bác không thổ lộ cùng ai, kể cả với anh Lê Duẩn, anh Trường Chinh. Nếu chúng ta không hiểu những nối đau của Bác, không hiểu được sự chín chắn, đúng đắn của Bác trong chính trị thì ta sẽ giáo điều, nói không sát.

Tổng kết lại, cho đến nay Đảng ta có 4 thắng lợi lớn và 4 thất bại. Bốn thắng lợi thì đã rõ: Thắng lợi thứ nhất là Tổng khởi nghĩa thắng lợi, thắng lợi thứ hai là Kháng chiến chông Pháp thắng lợi, thắng lợi thứ ba là Kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, thắng lợi thứ tư là thực hiện công cuộc đổi mới đang thắng lợi dần dần. Thắng lợi trong công cuộc đổi mới tuy Bác không còn, nhưng đường lối đi đúng tinh thần độc lập tự chủ, tức là trở lại với chính mình, trở lại với tư tường Hồ chí Minh mới đổi mới được. Cứ để như cũ chắc hôm nay nước đổ rồi. Bốn thắng lợi đều do tư tưởng độc lập tự chủ, do tư tưởng Hồ Chí Minh quyết định.

Bốn lần thất bại là do học theo Trung Quốc, học theo Liên Xô. Đó là xông thẳng tới chính quyền mà là chính quyền công nông thôi, đó là cải cách ruộng đât, đấu địa chủ. Bác không phải là không nói tới đấu tranh giai cấp. Cụ nói đấu tranh giai cấp phụ thuộc vào đấu tranh dân tộc.

Tất cả các lãnh tụ ở các nước khi cầm quyền không có ai trong sáng như Hồ Chí Minh, kể cả Fidel Castro. Vì Fidel cố giữ một cái gì đó đã cũ, hai nữa là ông còn dành một phần cho “em”. Bác không làm như thế. Ở Cuba không ai dám trái với Fidel. Kim Nhật Thành thì quá tệ. Còn Mao Trạch Đông, Stalin, Khrutchev, Gorbachov... cũng không thể hơn Bác. Việc Bác sống và sinh hoạt giản dị như thế không phải Người cố ý thể hiện cái gì là đồ Nghệ, lập dị mà vì Bác thấy dân còn đói khổ, chiến tranh làm họ nghèo đói chêt chóc. Bác không nỡ lòng sống một cách cách biệt. Vả lại Bác xuất thân từ một gia đình nghèo khổ. Bác giữ được phẩm chất như thế suốt cuộc đời.

Tôi không đồng ý nếu chỉ nói rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin vào điều kiện Việt Nam. Tôi đã viết cuốn sách: “Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ chí Minh”. Nói như thế có nghĩa là Bác có nắm được tinh hoa của chủ nghĩa Mác Lênin. Bác nắm được phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Ănghen cộng với tư duy thực tiễn của người Việt Nam. Tức là điều kiện ở Việt Nam, đất nước bị đô hộ kéo dài, nhân dân cực khổ, nên phải nói những điều thiết thực, không nói lý luận viển vông. Bác có kinh nghiệm nhiều. Bác nói ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh là những người yêu nước rất đáng kính, nhưng các ông ấy không biết làm công tác quần chúng, không thấy vai trò của dân đen. Bác nói và Bác hoà nhập với nhân dân ngay từ khi Người về Cao Bằng. Nếu nói Bác chỉ học Mác - Ănghen thôi thì không đúng, Bác rất sáng tạo, quý trọng con người. tư tưởng Hồ chí Minh không phải chỉ là sự vay m­ợn, mà là sản phẩm tinh thần của một phần tư duy con người Việt Nam.

Sai lầm lớn nhất của Chủ nghĩa Xã hội là cứ xông thẳng tới chính quyền. Và khi đã nắm được chính quyền rồi đáng lẽ phải thực hiện dân chủ thì lại nhấn mạnh chuyên chính. so sánh Bác với các Tổng bí thư các nước mới thấy sự khác biệt. Mác nói mục đích của cách mạng vô sản là giành chính quyền dân chủ, chuyên chính với kẻ thù để bảo vệ nền dân chủ. Cái sai nữa là, sau khi giành được chính quyền rồi thì thực hiện công hữu ngay lập tức, công hữu cực đoan, tức là vô sản hoá hơn cả tư bản. Mọi người không ai có gì cả, chỉ là người làm công ăn Lương, nên động lực mới yếu đi. Mác dự báo khoa học có cái đúng có cái trật. Nhưng về xu thê lịch sử là Mác nói dúng. Chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại lâu mà nó phải thay thế bằng công bằng hơn, cuối cùng là chế độ công h­ũ. Hiện tại không phải là công hữu hết mà chỉ cần xây dựng một nền kinh tế hợp tác là đủ. Chúng ta chưa dám nói khác. Người cầm quyền lại càng sợ nói khác đi.

----- O -----

Lời ban biên tập: Đối với phần đông dân chúng trong nước, sự hiểu biết về nước Mỹ quả thật còn quá ít ỏi. Cách tuyên truyền của Đảng cộng sản đã khiến nhiều người nhìn nước Mỹ bằng những dữ kiện sai, với một thế giới quan thù hằn, đầy thành kiến: Nước Mỹ tuy giàu có nhất thế giới, nhưng xã hội Mỹ đầy tệ nạn, với lối sống đồi bại, buông thả, nạn phân biệt chủng tộc diễn ra hàng ngày, người ta có thể cầm súng giết nhau bất cứ lúc nào,v.v…

Có thật như thế không ? Tác giả bài viết dưới đây là một đảng viên kỳ cựu ĐCSVN, ông từng được mệnh danh là “Con Hùm xám của đường số 4” trong kháng chiến chống Pháp.

Đây là kết quả ghi chép được của ông nhân một lần sang thăm nước Mỹ. Những gì mà ông được thấy tận mắt khác xa so với những gì mà Đảng đã dạy ông. Chắc hẳn từ trong tâm khảm, ông đã khoan khoái thốt lên rằng: “Suýt nữa thì ta phải mang theo sang thế giới bên kia một sự dối lừa”

Cũng xin nói thêm rằng, trong đoạn viết về những người Việt Nam ở Mỹ, ông vẫn còn bị nhiễm lối nhìn nhận mà ĐCS đã “trao tặng” cho ông. Ông không phân biệt được “yêu nước” và “yêu Đảng” là hai khái niệm khác nhau. Những người Việt xa xứ có thể không chấp nhận sự lãnh đạo đất nước của ĐCSVN, nhưng dù họ là ai thì chắc chắn trong họ luôn ấp ủ một tình cảm yêu thương da diết của những người con luôn hướng về đất mẹ.

Hồi kí người lính già


Chương 36
Những mới lạ của nước Mỹ đối với tôi

Sau một thời gian nghỉ hưu (1980 – 2004) và mày mò viết vài cuốn sách, tôi có ý nghĩ muốn nghỉ ngơi; chưa bao giờ tôi giám tự cho là nhà văn, nhà sử, nên nếu cứ lao vào lĩnh vực thần bí của người khác, e sợ rằng “đa ngôn-đa quá”

Tôi nảy ra ý nghĩ, hay tạm xếp bút nghiên, chu du thiên hạ một chuyến- vòng quanh trái đất xem nó tròn hay méo.

Tôi tìm đến GS, Trần Văn Hà, một học giả mà tôi từng yêu quý “Làm thế nào, trong túi không có đồng xu, mà đi được vòng quanh trái đất này hở thầy”.

GS. điềm đạm góp ý. Chỉ có phát huy nội lực cao độ, cộng với huy động tận cùng ngoại lực”.

Nhìn vào bản thân vốn liếng, tôi chỉ có căn buồng 15m2 ở gác, cái tủ sách nhỏ, và đồng lương cục trưởng khiêm tốn. Tôi suy ngẫm đến một tiềm năng mà tôi cần khai thác, đó là cái đầu….

Tôi nghĩ ngay đến những cuốn sách của tôi:

Tôi tập trung sức, thời gian và khả năng chăm lo cho mấy cuốn sách; trong 4 tháng “Người lính già” được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Anh.

Tất cả 3 cuộn đều được đánh máy sạch đẹp và cho vào đĩa CĐ. Cái gia tài tí hon ấy nằm lọt trong lòng bàn tay, và với cái vốn nay tôi có thể lên đường đi đến khắp các chân trời góc biển.

Xong phần nội lực, tôi nghĩ đến huy động ngoại lực.

Như trên đã nói, trong cải cách ruộng đất, hai gia đình họ Đặng Văn và Cao Xuân tan tác đi khắp nơi, cắm chốt và lập chi nhánh ở mọi nơi trên thế giới; đâu cũng có, một số làm ăn khá.

Tôi nghĩ đến em gái: bà Tâm, giáo sư Đại học Illinois (Chicago). Tôi điện
“Anh muốn qua thăm em một chuyến, nghĩ sao” ?
Hôm sau tôi được trả lời:
“OK, mời anh qua chơi với chúng em thủ tục cần gì cho biết, xe tàu em lo?
Tôi đến toà lãnh sự Mỹ xin những hướng dẫn, và sau 2 tuần, tôi có đầy đủ hồ sơ để nộp.

Tôi nghĩ đến chú em: Đặng Văn Kỳ, Giáo sư trường Đại học Polytechnique (Pháp)
“Anh muốn qua chơi với chú - nghĩ sao ?
Hôm sau, từ Paris, chú Ký đã trả lời:
“OK mời anh qua chơi với chúng em- cho biết thủ tục – tàu xe em lo.
Và cũng hai tuần sau, tôi đã có dầy đủ hồ sơ nộp cho Lãnh sứ quán Pháp ở Hà Nội.

Ngày 4/9/2004, tôi phải lên đường qua Mỹ, thế mà theo hẹn thì đến 6/9/2004 tôi mới có Visa đi Pháp. Tôi điện cho ông bạn tuỳ viên văn hoá. Lập tức từ Đại sứ quán Pháp có lệnh “Cấp cho ông Việt Visa trước 4 ngày (2/9/2004). Thế là tôi đã có đày đủ giấy tờ đi Mỹ và đi Pháp.

Tôi nghĩ đến chị ruột, chị Phan Huy Quát đang ở với các con ở Sydney (Úc) tôi điện. “Sau chuyến đi Mỹ và Pháp em muốn qua thăm chị –chị nghĩ sao”.
Qua Interphone chị Quát trả lời
“Mời chú qua chơi với chị mọi việc các cháu lo”.

Tôi đã thực hiện được lời vấn kế của bác Hà, cuộc hành trình chu du thiên hạ của tôi coi như đã sắp xếp xong tôi sẽ qua Mỹ trở về Hà Nội, rồi qua Pháp – Qua Úc

Lên đường thăm nước Mỹ:

Hành trang đã sẵn sàng, cái vali nặng kịt chỉ vì mấy chục cuốn sách làm quà. Qua cổng vào buồng đợi, phải nộp mãi lộ (200.000VNĐ), xem lại ví, tôi chỉ còn 34.000VNĐ (2đô) quay lại tôi bảo cháu Hải cùng đi: “Nộp cả cho cậu”.

Tôi đi Air Korean nên dừng chân 3 tiếng ở Seoul, vòng lên bắc cực, qua Béring Alaska, cuối cùng hạ cánh xuống sân bay Chicago.

Em Tâm và chồng là chú Wei lên tận sân bay đón

Từ Hà Nội, xa xăm, sau 32 tiếng, tôi đã rơi vào giữa nước Mỹ.

Tôi có cảm tưởng như đến với một hành tinh mới lạ; nếu ông Christophe Colombus đến Châu Mỹ còn hoang vu của người da đỏ, cách đây hơn 2 trăm năm, tôi đến Châu Mỹ đã khai phá, đã trở thành nước giàu nhất, văn minh nhất và mạnh nhất thế giới. Đúng vậy nước Mỹ đối với tôi có nhiều cái mới, cái lạ.

Tôi chỉ xin lượm lặt một vài điểm kể lại để bà con xem cho vui:

Sự bỡ ngỡ đầu tiên tiếp xúc với cuộc sống Mỹ:

Xe phóng như bay trên đại lộ (Chicago Illinois), đâm thẳng vào sân nhà, cổng gara vụt mở, xe lao vào và phanh đứng sững. Lập tức cánh cửa đằng sau lại xập xuống mau lẹ. Tôi có cảm giác như có ai đó, ở nhà, gác cổng, nên mới mở nhanh và đóng nhanh như vậy. Thực ra chỉ là việc bấm nút điện của chú Wei… Tôi bước vào nhà không khí ấm áp, cộng thêm mùi hương thoang thoảng của các loại hoa.

Tâm bảo Wei: “Anh tắt máy sưởi ấm và hút bụi, máy báo động. Em vào xem tin tức”.

Thế là chú Wei bấm công tắc, tắt hệ thống báo động để báo cho công an đến khi có người đột nhập. Hệ thống máy sưởi ấm, máy hút bụi đã làm việc xong và tự động tắt.

Căn nhà 8 buồng của 2 vợ chồng Tâm Wei lộng lẫy như một động tiên. Tôi tò mò ngắm cái này qua cái khác. Mọi thứ trong nhà đều máy móc hoá và điện tử hoá cao độ.

Bước vào nhà vệ sinh: Máy hút mùi hoạt động ngay. Nước hố tiểu, hố đại đều tự động mở và ngắt; buồng bếp được trang bị hết sức đầy đủ: đủ các thứ dụng cụ tiện nghi cho người nội trợ. Đủ các thứ lò và bếp, để nấu, nướng, hấp, sấy; đủ các thứ máy móc để xay thịt, xay hoa quả, máy lạnh, máy Freezer.

Ngoài hè thì máy giặt máy sấy, tưới cây, cắt cành, cắt cỏ.

Trong 10 tiếng vắng nhà hệ thống điện thoại và Internet ghi lại những lời nhắn, những điện tín của bạn bè. Tâm phải mất đến hơn nửa tiếng mới đọc hết tin

Nền nhà được lót toàn đệm lông, ngoài vườn trừ các gốc cây, mặt đất phẳng lì, bọc bởi một lớp đệm cỏ (cỏ của sân gôn) hàng ngày được tưới rửa bằng vòi nước, trong nhà đâu đâu cũng có sọt rắc: sọt ở salông, ở bếp, buồng tắm, ở nơi làm việc, buồng ngủ, ngoai vườn, trong ô tô ở mỗi tay nắm đều có một túi ni lông đựng rác của người trong xe.

Mải quen với lối sống hoang dã, bước vào một cuộc sống văn minh hiện đại đủ các máy móc và tiện nghi, tôi phải để ý từng li, từng tí và phải mất một thời gian mới làm quen được. Sau một chuyến đi dài hàng vạn cây số trên máy bay Wei và Tâm bảo tôi nghỉ ba bốn ngày để lấy lại sức và trong thời gian ấy chúng tôi bàn lập một chương trình cho chuyến đi thăm nước Mỹ.

Sau ba ngày nghỉ ngơi chúng tôi, cả nhà lên xe đi Wasinghinton thăm một số bà con trong thành phố Pittbourg, thăm bảo tàng Space, bảo tàng khoa học, bảo tàng sinh vật, bảo tàng lịch sử, mộ gia đình Tổng Thống Kennedy, thăm toà Bạch Ốc (từ xa)

Sau năm ngày, chúng tôi trở lại Chicago, thăm trường đại học Illinois, trường tiểu học Champaigne ở lại Illinois 3 ngày, cả gia đình lại mua vé may bay đi Los Angéles thăm bạn bè và một số bà con họ Cao Xuân, thăm khu phố Việt kiều, thăm một chùa nổi tiếng, thăm một bến câu cá biển.

Trở lại Chicago, chúng tôi đã đi thăm tàu Queen Mary , tàu ngầm, bảo tàng Thuỷ sản

Tôi đi Dallas 5 ngày, thăm bà con họ Đặng Văn

Trở lại Illinois thăm Wisconsin một vùng trồng Strawberry, một đặc sản, thăm nhà máy giấy lớn nhất thế giới của Mỹ, nhà máy làm Beurre, fromage

Cuối cùng sau gần 2 tháng, chúng tôi trở lại Việt nam, qua Canada qua Bắc cực về Hà Nội; tôi qua Bắc cực vào lúc 10h đêm, thế mà trời vẫn sáng vì đúng vào lúc 6 tháng ngày

1. Chuyện lạ thứ nhất với tôi: Một hệ giao thông hoàn chỉnh

Nếu ở Việt Nam ta phương tiện giao thông cho cá nhân và gia đình là xe đạp, xe máy, thì ở Mỹ là ôtô. Với trẻ em học sinh ở xa trường trên một Mile 1/2 thì có xe ô tô School bus ” đón tận nhà, nếu lớn 15 – 17 tuổi trở lên, các cháu có xe riêng và tự lái đi học, mỗi gia đình có 2-3 xe có khi nhiều hơn (với gia đình nông dân, gia đình người kinh doanh) vì vậy nước Mỹ có 280 triệu dân, chắc chắn số xe lưu hành có trên 280 triệu chiếc.

Nước Mỹ đầu tư rất lớn cho hệ thống giao thông, đường cao tốc thẳng như sợi chỉ băng, xe đi nhanh đi vào giữa, xe đi chậm đi ra rìa,cứ thế hàng vạn xe lao trên đường với vận tốc 100km/giờ đèn, xanh là xe chạy, có đèn đỏ là xe đứng, dù là nửa đêm, không có một bóng người, chứng tỏ luật giao thông được tôn trọng nghiêm túc

Qua hàng ngàn cây số trên đại lộ, có mấy điều lạ làm tôi ngạc nhiên.

  1. Tôi nhìn mãi, không tìm ra một bóng người đi bộ ven đường, mọi người đều ở trong xe.
  2. Không thấy một bóng anh công an nào gác đường, mà chỉ có những xe công an chạy trên đường có trang bị nhiều đèn nháy, hay đổ ở một điểm ở vệ đường.
  3. Tôi không được nghe một tiếng còi, dù là nhỏ.
  4. Tôi cũng không nhìn thấy một tai nạn máy bay hay xe hơi nào, có người chết hay bị thương (máy bay ở Dallas, ở LosAngêles: cứ 30 giây 1 chuyến).
  5. Qua các nơi gặp xe hoả, tôi không thấy một cổng chắn nào, hay có người gác đường; các nơi gặp đường sắt, đều có biển để “Rail-Way”, lập tức các xe đều dừng lại, nhìn qua trái phải, nếu không có bóng xe hoả, xe hơi mới tiến lên vượt qua đường.
  6. Có nhiều chỗ, nhất là trong thành phố ở các ngã tư, thường có biển để chữ đỏ Stop; lập tức, tất cả các xe đều dừng lại; lệnh “Stop”, tức là đứng, xe trở lại số 0 và đứng hẳn.
    Nếu vì lý do gì mà xe cứ đi, thì lập tức, camera chụp ảnh và chủ xe nhận 1 giấy báo tin đến nộp phạt (300 đô)
  7. Hai bên đường đại lộ, hầu hết đều không có nhà cửa, không có hàng quán, cứ khoảng từng chặng đường chừng 50 cây số, có tổ chức một trạm dừng chân (Rest area) các xe cộ rẽ vào, hành khách đi vệ sinh, giải lao, uống nước… ở Mỹ, không có xu hướng tìm mặt đường…

Đi hàng ngàn cây số, tôi có cảm tưởng rất yên tâm, mặc dù xe đi với tốc độ cao, ai cũng theo đúng vệt đường của mình, tuân thủ triệt để các chỉ dẫn trên đường, các đường cắt ngang đại lộ đều qua đường vượt.

Nước Mỹ có một hệ thống giao thông tuyệt vời và khoa học.

Về đến nước nhà, không ngày nào mà tôi không nghe tin về những vụ tai nạn, số người chết bị thương chẳng khác gì hồi có chiến tranh.

Chúng ta phải nghiên cứu rút kinh nghiệm vận dụng cho hệ thống giao thông Việt Nam.

2. Điểm lạ thứ 2 với tôi: vấn đề giữ vệ sinh, giữ sạch đẹp khắp mọi nơi mọi lúc.

Tôi còn nhớ hồi ở trường trung học thầy cô dạy một châm ngôn:

Sạch sẽ là dấu hiệu đầu tiên, biểu hiện của trình độ văn minh”. (La propreté est le premier signe de la civilisation).

Điều lạ thứ 2: với tôi là cả nước Mỹ đâu đâu cũng rất sạch đẹp.

Nền đường là nơi tung ra nhiều bụi bặm, thế mà đường xá ở Mỹ là rất sạch sẽ, không có bụi, không có rác, không có đất, không cát sỏi: tôi có cảm giác nếu bị ngã bò lăn vài vòng trên mặt đường , áo quần của tôi vẫn không bị lấm bẩn. Quan sát tìm nguyên nhân, tôi tìm ra một bí quyết: ở Mỹ, đệm cỏ ven đường nằm sát với mép đường: mép đường và đệm cỏ ven đường sát nhau. Bởi vậy 2 bên đường không có đất và cát sỏi tung vào đường. Sau một trận mưa, đường được rửa sạch, mép cỏ xanh tươi, và cũng được rửa sạch không làm tung đất đá vào đường.

Đúng là một biện pháp thông minh và rẻ tiền

Các xe tải đều kín mít, không được tung ra bất cứ thứ gì xuống đường

Ở Việt Nam ta, các xe tải chở đất cát cho xây dựng, làm tung toé ra đường, đúng là nguồn bụi làm ô nhiễm bầu không khí, môi trường...

Ý thức giữ vệ sinh ở các nhà ở mà tôi được qua đều rất cao.

Bước qua cửa vào nền nhà lót bằng đệm lông, máy hút bụi thường xuyên được dùng đến, trong nhà mọi buồng đều có thùng rác riêng, không một mụn giấy, một vật rác nào mà không được nhặt cho vào thùng rác.

Ngoài cổng mỗi nhà có một một thùng rác lớn.

- Ở Mỹ, rác được phân loại từ các gia đình, đựng trong các túi màu sắc khác nhau.

Nhờ sự phân loại như trên, nên các công nhân làm việc rất thuận lợi. Các nhà máy chế biến rác cũng được thuận lợi. ở các nhà ăn, nơi công cộng, nhà vệ sinh, đâu đâu cũng có thùng rác, và người dân Mỹ luôn tôn trọng giữ vệ sinh chung, không bao giờ vứt giấy rác, tàn thuốc lá, que diêm, xuống đường, hay sân nhà.

Tôi đã thăm qua một khu rừng, (Park Allerton) tôi không thấy rác vứt bừa bãi trong rừng, và trên đường đi giữa rừng, thỉnh thoảng tôi lại thấy một số thùng rác và nhà vệ sinh cho người đi lại chơi rừng.

Nhìn vào các dòng sông; dòng suối chy qua rừng hay qua thành phố, không có hiện tượng rác rưởi, túi nilon nổi lềnh bềnh hay bám vào bờ, nước sống suối vẫn trong veo. Cảnh tượng trên làm tôi nhớ đến sông Hồng, sông Lô, Sông Tô Lịch, tôi rùng mình, rờn rợn vì ghê tởm.

Ở Mỹ ở những nơi bẩn nhất cũng là nơi sạch nhất. Như các nơi dừng chân nghỉ ngơi.

Ở các nơi dừng chân nghỉ ngơi của các xe. Các dụng cụ vệ tinh đều được sử dụng loại hạng một, như ở các sân bay, hay ở khách sạn 5 sao. Các buồng đều có nóng lạnh, xà phòng kem, giấy lau tay và ổ điện sưởi tay, tất cả mọi thứ rác đều được vứt vào sọt, tuyệt đối không có giấy vệ sinh vứt xuống sàn nhà. Các buồng đều có điều hoà nhiệt độ và máy hút mùi hôi. trên thảm cỏ ngoài vườn ta có thể đi lại, tất trắng vẫn sạch, và có thể nghỉ ngơi như trên mặt chiếu.

Cái gì đã làm cho nước Mỹ sạch sẽ như vậy, đó là nhờ ý thức của từng con người , cộng với cách tổ chức thực hiện: đâu cũng có thùng rác, đâu cũng có nhà vệ sinh, lại thêm luật pháp nghiêm khắc và chặt chẽ, (một hiện tượng đái đường bị phạt 200 đô).

Trở lại với Hà Nội, nơi ngàn năm văn hiến: các đường phố đầy giấy vụn, túi nilôn. Qua chợ Hàng Gia, nơi bán rau, thịt, cá, nước bẩn đen ngầu, đọng hai bên đường, bốc lên một mùi hôi nồng đặc. Trước mỗi nhà, đều có một đống túi nilon đựng đủ các thứ tập trung ở ven đường, để đợi đêm có người mang đi. Từ chủ nhà đến người qua đường không ai thèm nhặt giấy rác trước mặt mình, ai cũng coi đó là vấn đề của xã hội, không ai chịu trách nhiệm. Người Hà Nội văn minh coi mặt đường là túi rác của mình một cách tự nhiên.

Hà Nội dân só đông, người đi lại dày đặc, thế mà tìm cho được một nhà vệ sinh thật là khó. Cả Hồ Hoàn Kiếm rộng mênh mông mà chỉ có một nhà vệ sinh công cộng, ai ra ai vào đ