Bạn Đọc Viết & Mạn Ðàm | Mục Lục | Xem tiếp | Trở lại | Trang Đầu
Thư tín Bạn Đọc Viết |
Vu Long: nguoi viet ghet nguoi viet
Tôi sinh ra và lớn lên ở HN, nhưng hiện giờ đang học tập tại châu âu. Vi vay nhan xet cua ca nhan toi ve nguoi Viet Nam song o Hoa Ky co phan khac so voi nhung nguoi o trong nuoc. Thu nhat o trong nuoc moi nguoi it biet den thong tin va cac trang web cua Viet kieu o My. Co nhung trang web that su la khong the chap nhan duoc. Tai sao nguoi Viet Näm o My lai coi thuong va cam thu nhung nguoi Viet o VN. Phai chang ho cung co su do ki lon, la da khong duoc o tren manh dat que huong minh, nhu 78 trieu nguoi Viet khac . O dau cung vay khong co cho nao co the song an nhan va sung suong bang song tren chinh noi que huong minh. Toi cung da xa nha lau roi, song va lam viec o day thi cung rat tot va co dieu kien nhung thu hoi xem neu nhu bo me, vo con, ban be, ho hang van song va lam viec o VN thi lieu chung ta co muon song canh ho khong, hay la chi nghi den the gioi tu do va cuoc song day du. Toi chi muon noi voi cac ban mot dieu la qua khu la qua khu, neu ta cu om no trong long thi mai mai han thu va khong song vui ve duoc. Neu nhu o dat My co nguoi giau co day du, nhung lieu tu nhien ho co cuoc song do chu, hay cung phai vat va lam viec va hoc hoi. Nhung nguoi cang giau co thi ho lam viec cang nhieu va vat va hon nhung nguoi binh thuong. Chung ta khong len so sanh ve con nguoi. Noi ve VN bay gio thu hoi co nguoi VIet giau co nao o My khi co dieu kien lai khong muon tro ve tham, hay du lich lai VN chu. Thu hoi Viet kieu song o My neu ai cung cam thu va khong chap nhan che do CS cua VN bay gio thi lieu hang nam so tien may ty DOLA tien ngoai te lam sao lai ve VN. Cac ban cu song va lam viec o dau cung the, nhung la nguoi VN thi deu huong ve to quoc, khi co viec can thi chung ta deu san sang xay dung va benh vuc cho to cquoc cua chung ta dung khong. Toi rat buon khi co nhieu nguoi o nuoc ngoai chi dua tin linh tinh hoac lam xau di moi quan he . La nguoi VN toi cung chua dong gop duoc gi cho dat nuoc ca, nhung cung khong lam hai den dat nuoc. Neu cac ban co tai va thuogn yeu dat nuoc thi hay lam gi do cong hien cho dat nuoc chu dung len an ai, hay ngoi do boi nho ai. Nhu vay khong dang hoang va khong xung dang la nguoi VN. O dau cung co nguoi tot ke xau, tranh xa ke xau thi minh tro thanh nguoi tot, con neu song gan thi minh cung de nhiem. Toi thay trang web nay la trang Web co the doc va trao doi duoc , boi vi cac ban viet that su tam long va suy nghi cua minh chu khong phai vi mot dieu vu loi nao ca. Con chi thue nguoi ngoi viet bay ba va dua tin linh tinh, y kien 1 chieu thi chang ton tai duoc lau va chang co doc gia nua. Toi cam on cac ban vi co the dua y kien rieng cua minh len cung trao doi. Neu thay co gi sai hoac y kien cua toi khong tot thi cu viec viet lai cho toi, cam on vi cac ban quan tam.
mạng Ý Kiến: bài này không bỏ dấu, mong các tác giả bỏ ít thì giờ tập đánh chữ Việt có dấu. Xem: Thông báo về việc dùng chữ Việt để gứi bài và Bạn đọc có thể dùng «Góp Ý» để gửi thư cho Mạng Ý Kiến (với chỉ dẫn về cách bỏ dấu trong phần Giúp đỡ).
Lesoctrang: Về việc gởi bài
Mục đích phát huy chính nghĩa của dân Việt, và quan trọng là đánh vào cái tâm của mình, nên tôi mạo muội, lấy những bài hay có ý nghĩa, lương tâm của người Việt. Vì nếu đăng trên báo ở Mỹ hay ở Úc, Pháp, Đức ... thì chỉ người Việt ở địa phương đó đọc mà thôi, còn đồng bào trong nước họ hoàn toàn không biết. Tôi có in những bài nghiên cứu hay như của Bác Bùi Tín ..., gởi về VN nhưng chủ yếu là gởi 1 số cán bộ có quyền, nên sức phát huy không cao. Vì thế, cuối tuần tôi đánh những bài đó, mà nhờ mạng Ý Kiến phổ biến, vì bây giờ thông tin trên internet có một sức mạnh vô hình, mà bất cứ chế độ độc tài nào trên thế giới không thể nào ngăn chặn được, và sức mạnh nầy càng ngày càng hoàn thiện và phát huy tính đa năng của nó. Những bài nầy tôi lấy từ báo Việt Luận (Australia) Tel: (02) 9796 3922 - Fax: (02) 9707 1572 - Email: info@vietluan.com.au hay quý bạn có thể coi báo Việt Luận online trên internet Tôi rất quan nghênh báo Việt Luận online, vì như thế đồng bào trong nước có cơ hội đọc tin tức ở hải ngoại. Và của Hội Thiện Nguyện Cứu trợ TPB Bị quên lãng tại VN. Nếu Mạng Ý Kiến, cần tìm hiểu có thể liên lạc anh Nguyễn Cảnh Tân ( Hội Trưởng): 42 Cardwell St. - Canley Vale - NSW 2166 Australia hoặc Tel: (02) 9728 3640 - Fax: (02) 9726 5003 để phối kiểm có đúng hay không, và xin Hội TNCTTPBBQL tại VN bỏ lỗi cho tôi vì mạo muội gởi bài của Hội!.
30 tháng Tư - 30 năm sau: LỊCH SỬ NGÀN NGƯỜI VIẾT - Vũ Văn Lộc Le Sóc Trăng gởi bài |
mạng Ý Kiến: Mặc dù nhã ý của bạn Le Sóc Trăng là khi thấy bài nào hay và muốn san sẻ cùng bạn đọc nên gửi bài; nhưng việc đăng bài của 1 tác giả qua 1 độc giả gửi tới là điều rất miễn cưỡng vì không biết tác giả có đồng ý hay không. Ngoài ra, có khi cần phải kiểm lại sự kiện xem có đúng hay không, đây là việc làm ngoài khả năng chúng tôi (thí dụ: trong bài “Định Mệnh” có đoạn nói về chuyện 1 phụ nữ tự nguyện lấy 1 thương phế binh VNCH, vì quá đẹp nên chúng tôi thấy cần phải kiểm lại, nhưng rất tiếc là không có điều kiện).
Vào năm 1995, nhà thơ Nguyên Sa và Hải quân Đại Uý Lê Bá Chư có phát hành một tuyển tập tựa đề là Lịch Sử Ngàn Người Viết. Trong cuốn sách 200 trang, ghi dấu 20 năm tỵ nạn, tuy chỉ mới có sự hiện diện của 10 nhân vật, nhưng đã được sự chú ý của rất nhiều người còn quan tâm tới Việt Nam Cộng Hoà.
Lúc còn sinh tiền, tôi có dịp nói chuyện với giáo sư Trần Bích Lan về ngày 30 tháng Tư 1975. Chúng tôi thảo luận về chuyện Nam Việt Nam của chúng ta đã đứt phim ra sao và cuốn sách đầy kỷ niệm của các tác giả. Nguyên Sa có nói rằng, cuốn sách là tập hợp rất đáng ca ngợi của Lê Bá Chư. Còn về chuyện Việt Nam Cộng Hoà thì phải đồng ý với nhau rằng tất cả là do định mệnh.
Định mệnh của từng người dân Việt và định mệnh của cả một dân tộc. Cả hai phía Bắc Nam đều không sản xuất súng đạn và cả hai phe đều được võ trang bằng các tư tưởng đến từ bên ngoài. Một bên là tiền đồn của thế giới tự do và một bên là tuyến đầu của phe cộng sản. Dù chiến thắng trận sau cùng, nhưng chính thực miền Bắc đã trả giá bằng xương máu và cuộc sống lầm than cơ cực hơn miền Nam suốt thời kỳ chiến tranh. Hơn 20 năm sau, vào thời điểm của năm 1995, ảnh hưởng của chế độ cộng sản vẫn đè nặng lên cả nước, làm cho Việt Nam vẫn không đứng lên được.
Bây giờ là thời điểm của 30 năm sau, chúng tôi muốn mượn tựa đề của Nguyên Sa và Lê Bá Chư để mời quý vị góp sức vào một tác phẩm mới. 30 tháng 4 - 30 năm sau. Lịch Sử Ngàn Người Viết. Và lần nầy sẽ có sự hiện diện thực sự của ngàn nhân chứng ở đủ mọi hoàn cảnh, lớp tuổi và địa phương khác nhau.
Tuy nhiên, mở đầu bài giới thiệu hôm nay, tôi phải nhắc lại ý kiến đã thoả hiệp với giáo sư Trần Bích Lan. Quả thực, chúng tôi chưa tìm được điều gì thay thế cho hai chữ Định Mệnh.
Xin cho phép lấy chuyện Định Mệnh cuộc đời của chính cá nhân tôi để nhìn lại lịch sử.
Khi Pháp trở lại Việt Nam sau thế chiến 39 - 45 (thế chiến thứ Hai), toàn quốc kháng chiến, tôi là cậu bé trên 10 tuổi, tham gia nhi đồng cứu quốc. Chúng tôi đi khắp các xóm làng để làm công tác tuyên truyền và văn nghệ. Thi đua chống nạn mù chữ. Đôi khi gặp cô Thái Thanh ở tuổi 16, đứng ca bản Cô Hàng Cà Phê. Cả toán thiếu nhi chúng tôi đều mê thần tượng, đến thờ thẩn cả ngày. Chẳng hề biết đến những chiều sâu của chính trị.
Sau đó, vì may mắn thi đậu bằng tiểu học đứng đầu liên khu III, tôi được chính phủ Kháng chiến ngỏ ý cho đi học bên Nga hay bên Tàu gì đó. Cha tôi mất sớm, mẹ tôi nhất định không cho đi. Và định mệnh bắt đầu định hướng.
Tiếp theo, Tây nhảy dù xuống Phát Diệm, đóng đồn ở Bình Hải - Yên Mô. Mẹ tôi bán xôi ở cạnh đồn Tây, lúc đó có nhiều lính Việt theo Pháp, từ bên Tàu rút về. Phần tôi thì làm trinh sát cho Việt Minh để vẽ bản đồ.
Một hôm, Việt Minh nhắn tin sẽ thanh toán con mẹ tản cư bán xôi cho địch. Mẹ tôi sợ quá, bèn dắt hai con hồi cư về Nam Định. Định mệnh bắt đầu rõ nét. Thằng bé 15 tuổi đã có cơ hội bỏ hàng ngũ kháng chiến, để về phe quốc gia.
Vào thời kỳ đó, ngoài Bắc gọi là về dinh tề hay về Tề. Chính Phạm Duy và cả ban hợp ca Thăng Long sau này cũng bỏ Kháng chiến về thành vào các buổi giao thời.
Riêng tôi, sự thực vẫn chẳng hề mảy may có ý niệm gì về chính trị. Về thành, tôi có một vài người anh họ cùng lớp tuổi, sau một thời gian quen biết gần gũi. Rồi anh Vũ Văn Định thoát ly đi theo kháng chiến. Anh em mỗi người một ngã. Tại Nam Định, lúc đó có lớp sĩ quan động viên đầu tiên. Hầu hết các sinh viên sĩ quan trẻ thuộc lớp trí thức và rất được các cô thành thị chú ý. Thêm vào đó, có một vài Thiếu Uý Đà Lạt mới ra trường, về làm cán bộ. Nhìn các sĩ quan 20 tuổi, đeo lon Tây, đi xe Jeep, nói tiếng Pháp với các Hạ sĩ quan Lê Dương. Anh em chúng tôi mê không chịu đuợc. Thôi rồi, niềm mơ ước tương lai của tôi đã rõ nét.
Sau đó khi đỗ trung học, tại trường Nguyễn Khuyến, Nam Định, tôi lên Hà Nội học thêm, rồi chờ đợi đi động viên. Và định mệnh đã hằn dấu vết của sinh viên sĩ quan trừ bị Vũ Văn Lộc, học khoá Cương Quyết, Đà lạt, mà quý dộc giả đã nghe chúng tôi ồn ào quảng cáo suốt thời gian qua, vào dịp 50 năm, gặp lại nhau tại Nam California.
Khi hiệp định Geneve cắt đôi Nam Bắc. Mẹ tôi và cô em gái bỏ lại tất cả họ hàng, để vào Nam. Bảo là đi tìm tự do thì quả thực là không phải, bà chỉ đi tìm con trai. Cả họ Vũ ở nhà đều nói rằng thím phải vào Nam kêu thằng Lộc về. Bây giờ hoà bình rồi, vào Sài Gòn làm cu-li đồn điền cao su, thì chỉ có sốt rét ngã nước rồi chết xác.
Tuy nhiên, ông con trai 20 tuổi đeo lon Thiếu Uý kiểu Tây còn đang say sưa với bộ quân phục, nên không chịu trở về Bắc, mà lại giữ chân bà cụ và cô em ở trong Nam.
Xem ra sự lựa chọn của một thanh niên vào thòi đó, cũng không phãi là đã có những suy nghĩ trưởng thành. Đất nước như là một sân đá banh. Đang đứng ở phía nào thì đá cho phe đó. Tất cả anh em chúng tôi từ Hà Nội ra đi, ngay như tình yêu cũng còn chưa chín, nói gì đến lý tưởng và quốc gia dân tộc. Bây giờ đã 70 tuổi rồi, sợ gì nữa mà không nói ra thẳng ra như thế.
Nhưng càng về sau, sống với miền Nam, lấy vợ Nam kỳ, hành quân Năm Căn, Cà Mau, qua Đồng Tháp, Kiến Phong (Cao Lãnh). Tư duy lớn theo tuổi. Dọc ngang sông Tiền, sông Hậu. Trải qua các đơn vị. Suốt đời chỉ biết chuyện nhà binh. Anh sĩ quan trẻ tuổi lớn dần với binh nghiệp và ngày càng yêu thương quân đội, yêu thương binh sĩ, yêu thương chiến hữu. Tình yêu lính trở thành tình yêu nước và lý tưởng thăng hoa. Cùng xây dựng sự nghiệp và xây dựng lý tưởng, rồi cũng học được những lẽ hơn thiệt, cái xấu và cái tốt của binh đoàn. Lúc thì đam mê bảo vệ, lúc thì tức giận đả phá. Duy có một điều may mắn là dù anh em thân quyến họ Vũ của gia đình tôi, bỏ lại miền Bắc năm 1954, có nhiều người chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, nhưng chúng tôi chưa gặp nhau trong suốt cuộc chiến. Đôi khi, tìm kiếm nhưng không thấy trong danh sách: sinh Bắc tử Nam, củng như danh sách bên Bộ Chiêu hồi. Phần tôi, con đường đi cứ miệt mài 21 năm, cho đến 30 tháng tư 1975.
Một lần nữa, định mệnh đã ra tay. Nếu tôi vẫn nằm ở các dơn vị miền Tây, với ông Nguyễn Khoa Nam hay miền Đông với ông Lê Nguyên Vỹ, thì phần số có lẽ củng thay đổi. Tại các nơi này, số sĩ quan ra đi rất ít.
Từ tháng 3-1975, tôi có nhiệm vụ công tác Quân Khu II, rồi Quân Khu I, để rồi cùng anh em tháo chạy trên các tuyến rút quân hỗn loạn và trên các Quân Vận Hạm kinh hoàng. Chạy từ Nha Trang về Cam Ranh, từ Cam Ranh về Phú Quốc. Từ Phú Quốc về Vũng Tàu và từ Vũng Tàu về Sài Gòn. Cứ như người mê sảng cùng với toàn quân, không thể có lúc nào dừng bước đứng lại mà suy nghĩ. Quen chân rồi chạy luôn theo tàu Mỹ, mà bỏ lại anh em và cả một cuộc đời binh nghiệp.
Một lần nữa, các ông anh bà chị, ông chú bà bác từ Hà Nội và Nam Định sau 75 đã vào Nam, tìm lại thằng cháu với lời than thở. Bây giờ đất nước hoà bình rồi, mà sao thằng Lộc nó còn chạy đi đâu. Lại sang Tân Thế Giới làm phu đồn điền hay sao ?.
Đó cũng là điều chúng tôi đã nghĩ đến, khi di tản qua Mỹ. Chắc chắn là sẽ đi làm nông trại. Xem các phim Mỹ chỉ thấy di dân Nhật Bản và dân Mễ (Mexico) làm ruộng ngoài đồng. Dân Việt của mình đến Mỹ thì có khác gì đâu.
Nhưng sự việc đã không xảy ra như thế.
Năm 1954, dân Bắc Kỳ di cư vào Nam đã không chết vì sốt rét ở các đồn điền cao su Hớn Quản. Chúng ta đã cùng nhau xây dựng một Việt Nam Cộng Hoà ngon lành hết sức.
Năm 1975, dân miền Nam tỵ nạn qua Hoa Kỳ, không chết vì lao động ở các nông trường Sacramento. Chúng ta đã tạo dựng các cộng đồng tốt đẹp phi thường, bằng mồ hôi, nước mắt. Người di tản buồn đã xây dựng cuộc sống từ đống tro tàn và đã trở thành các ốc đảo Đài Loan trên đất Mỹ, để so sánh Việt Nam với Hoa Lục ngày nay.
Từ 1954 cho đến 1975, nếu đã không chết ở biển Đông, không chết ở trại tù Việt Bắc, thì sẽ sống nhẹ nhàng, êm đẹp ở miền đất Tự Do chan hoà cơ hội.
Sau cuộc chiến, nếu bạn thực sự là kẻ thua trận, là Nguỵ thứ Thiệt, mà còn sống là bạn đã ra đi về chân trời mới, với tương lai mở rộng cho con cái đời đời. Đinh mệnh đã ghi rõ như vậy.
Bây giờ sau 30 năm, các anh em họ Vũ của chúng tôi ở lại miền Bắc, không còn bày tỏ lòng thương hại cho đứa em lưu lạc của phe chiến bại. Các ông anh họ của tôi, sau khi mang quân hàm tướng, tá đã về hưu, trong sự nghèo túng oán hận và qua đời lặng lẽ.
Phần tôi, bây giờ đang tìm cách viết lại lịch sử của 30 tháng 4, một cách nghiêm chỉnh và công bình. Để sau này, chính các thế hệ tương lai tại Việt Nam và ở khắp nơi trên thế giới, khi cần sẽ tham khảo.
Con cháu, có thể tìm đến, để hiểu về nguồn gốc của người Việt Nam tại hải ngoại. Họ là ai ? Đã ra đi vì lý do nào ? Vào thời điểm nào ? Tại sao người Bắc lại vào Nam năm 1954 và tại sao miền Nam lại ra đi năm 1975 ?. Tại sao lại ra đi khi quê hương hoà bình ?. Tại sao lại ra đi khi đất nước thống nhất ?. Và trên khắp năm châu bốn bể, người Việt là đứng dậy như thế nào, từ sau ngày đau thương tháng 4, 30 năm về trước.
Đặc biệt ở một nơi nào đó, trong cái viện bảo tàng của Việt Nam Cộng Hoà, sẽ có một khu dành cho 30 tháng 4 năm 1975. Bên cạnh những hình ảnh di tản đau thương hỗn loạn, sẽ có các bản minh hoạ về những cái chết phi thường của các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hoà.
Ông Lê Nguyên Vỹ, gốc Sơn Tây, Bắc Việt. Ngày 28 tháng Tư 1975, đã bình tĩnh tiễn chân vợ và 4 con nhỏ tại Tân Sơn Nhất. Trưa ngày 30-4-1975, sau khi nghe lệnh đầu hàng, dặn dò ba quân, ngồi ăn cơm với các sĩ quan, rồi cáo từ vào phòng riêng. Một phát súng vào đầu. Vị Tư Lệnh Sư Đoàn 5 ra đi vào cõi vô cùng. Hai tháng sau ở Mỹ vợ mới biết tin. Đó là câu chuyện vị Tư Lệnh miền Đông Nam Phần.
Tại miền Tây, tướng Nguyễn Khoa Nam, sinh trưởng ở Huế, khi nghe lệnh đầu hàng, vẫn còn bình tĩnh ra các chỉ thị cần thiết. Ông cho huỷ bỏ sơ đồ hành quân trận cuối cùng. Không cho phá các cây cầu trên quốc lộ. Chỉ thị cho các đơn vị chấm dứt giao tranh tránh thương vong vô ích. Ông đi thăm các thương binh ở Quân y Viện Phan Thanh Giản. Trở về giao các di vật cho tuỳ viên. Lui vào phòng niệm Phật rồi nằm xuống nghĩ ngơi. Cho đến sáng 1 tháng 5-1975 (6 giờ sáng), ông mới bắn súng vào đầu để ra đi. Tư Lệnh Phó là tướng Lê Văn Hưng, người miền Nam cũng đã tự vẫn trước đó mấy giờ đồng hồ, bỏ lại vợ con.
Những cái chết của tướng Vỹ, tướng Nam, tướng Hưng và các vị khác vào những giờ phút cuối rất lẫm liệt và bình thản, không hề có sự rối loạn, không hề có sự tức giận hay sợ hãi. Những người như Lê Nguyên Vỹ và Nguyễn Khoa Nam ... chính là Mặt Trời tháng Tư của chúng ta. Những người đã đứng ra quyết định về dịnh mệnh của mình.
Vì những gương hy sinh cao cả đó, chúng ta cùng viết lại lịch sử của ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Giao chỉ San Jose - Vũ Văn Lộc
Luật sư Pháp xin bào chữa cho Phạm Quế Dương Tran Thong Tin gửi tin |
dimanche 25 avril 2004, 5h19
Un avocat français veut défendre un dissident vietnamien à Hanoï
http://fr.news.yahoo.com/040425/1/3rfpj.html
HANOI, 25 avr (AFP) - Un avocat du barreau de Paris a officiellement demandé aux autorités vietnamiennes un visa pour se rendre au Vietnam et assurer la défense du cyberdissident Pham Que Duong, emprisonné depuis décembre 2002 à Hanoï et en attente de son procès, a-t-il indiqué dimanche à l'AFP.
Me Jean-Louis Malterre a été contacté par des membres de la famille de Duong. "Leur souci est de sortir du silence et de connaître les charges qui pèsent contre lui", a-t-il indiqué.
L'avocat a sollicité cette semaine par courrier l'ambassadeur du Vietnam à Paris afin de pouvoir défendre Duong, un ancien colonel et historien de l'armée de 72 ans, dont la date du procès n'a toujours pas été officiellement annoncée.
Si sa demande était acceptée, il serait le premier avocat étranger à défendre un dissident au Vietnam. Les procès de ce genre dans le pays durent en général quelques heures, loin des regards des journalistes et diplomates étrangers.
"Je ne sais pas quelle qualification a été retenue, ni ce qu'il y a dans le dossier, ni quand le procès aura lieu. J'ai un peu de mal à préparer l'audience", a souligné l'avocat.
Duong avait été arrêté le 28 décembre 2002 suite à une rencontre à Ho Chi Minh-Ville (ex-Saïgon) avec Tran Khue, un autre dissident également emprisonné depuis.
En mars 2002, il avait vu sa candidature aux élections législatives dans la circonscription d'Hanoï rejetée par les autorités. Il est accusé d'avoir des liens avec des forces "réactionnaires" de l'étranger.
Militant anti-corruption, il fut aussi l'un des 21 co-signataires d'une pétition envoyée en août 2002 à l'Assemblée nationale réclamant des réformes démocratiques.
En février, l'organisation reporters sans frontières s'était inquiétée de son sort. "Pham Que Duong et ses avocats n'ont pas eu la possibilité de préparer leur défense correctement. Nous craignons que le procès de l'historien ne soit une véritable mascarade, comme bien souvent dans le cas de dissidents politiques", indiquait RSF.
Định Mệnh LE SOCTRANG gửi bài |
Tôi mạo muội gởi đến các bạn khắp 5 châu, bài của anh thương phế binh bị quện lãng tại VN, đăng trên báo Việt luận (Australia), đặc trang Thương phế binh (trang 62).
LE SOCTRANG
ĐỊNH MỆNH
Minh Tạo
Năm tuổi, một đứa trẻ ngơ ngác theo chân cha mẹ đùm túm di cư vào Nam mà hoàn toàn chưa biết thế nào về tương lai của mình khi lũ lượt đặt chân vào vùng đất hứa, chi biết vui mừng khi được cấp phát cho quần áo, sữa bánh mì, gạo những nhu yếu phẩm mà mới ngày nào lúc còn ở phía bên kia vĩ tuyến dễ gì tìm ra được. Nghe bố mẹ kể lại ở nơi ấy đã từng xảy nạn đói chết cả đến mấy triệu người đã làm rúng động thế giới một thời. Hiệp đinh Geneve đã cho hàng triệu người sống trong ấm no hạnh phúc và cơ hội làm lại từ đầu không khó khăn lắm bởi tính cần cù và chịu khó của những con người bỏ tất cả ra đi chỉ với đôi bàn tay trắng.
Mười ba năm sau, đứa trẻ ngơ ngác ngày nào đã trưởng thành và dáp lời sông núi theo lệnh động viên của Chính Phủ miền Nam như một sự đền ơn cứu mạng nuôi dưỡng trong tình người đầy bao dung và bác ái. Đúng vậy, sự giúp đỡ của chính quyền miền Nam lúc đó đã khắc ghi vào tâm khảm của từng người dân di cư thời ấy. Những ngày thăng thăng trầm của đất nước đã làm tan nát biết bao nhiêu gia đình phải chít khăn tang cho cảnh chia lìa vì chiến cuộc không ngừng dù các bên đã ký kết ngừng chiến trong hiệp định. Không hiểu tại sao họ lại tiếp tục và nuôi dưỡng chiến tranh mà không lo cho dất nước thăng tiến và đời sống người dân được ấm no hạnh phúc. Tôi phải bảo vệ những cái ấm no hạnh phúc mà chúng tôi được thừa hưởng như một bổn phận hay một sự đáp đền mà làm người ai ai cũng phải thế.
Một tuần cuối cùng trước khi mất Sài Gòn, tôi bị trúng hoả tiển của những người anh em từ Bắc vào mệnh danh là quân giải phóng. Nửa năm nằm oằn oại bên vết thương trí mạng và nhìn phố phường tung bay những ngọn cờ mà lúc trước chúng tôi chỉ thỉnh thoảng thấy được khi chúng tôi thu lượm chiến lợi phẩm sau khi đụng độ với kẻ lấn chiếm bỏ lại. Người chiến thắng trong trách nhiệm bảo vệ cũng tan nát cỏi lòng bỡi cảnh 'nhồi da xáo thịt'. Nhìn phố xá đổi thay, người tất bật lo chạy gạo, chạy kiếm sự sống hay đường sống hoặc vượt biển vượt biên đã làm đão lộn tất cả. Hàng vạn thương binh mất hẳn số tiền trợ cấp và nơi điều trị phải bung ra khắp nẽo đường tự mưu sinh tìm cái sống trong tủi nhục đắng cay. Trong thân xác tàn tạ của tôi một lá phổi thủng bấy, một chân bị đứt gân nên bị liệt, chân kia bị cắt cụt, một mắt bị mù. Với tấm thân tàn lê lết ăn xin ở các bến xe và những quán hàng địa phương lân cận để sống qua ngày trong tình thương của những người may mắn hơn, thể hiện lòng bác ái trong hoàn cảnh khó khăn vì bị đánh tư sản nên bây giờ coi như là thời gian bi thảm nhất dối với những người phế binh chúng tôi. Sáu năm sống bằng nghề ăn xin, được nhiều bạn bè cũ động viên, an ủi và giúp cơm gạo qua ngày. Rồi một ngày đối với tôi nó đã là cái mốc lịch sử suốt đời không làm sao quên được. Xin được viết ra đây như một niềm hãnh diện mà tôi đã may mắn có được. Đó là ngày 20 -3- 1981, ngày mà tôi tình cờ gặp lại nguòi bạn học cùng trường củ là Nguyễn thị Nga. Như định mệnh đã an bày, gặp lại nhau trong hoàn cảnh nát tan. Người con gái tên Nga ấy quyết định kết bạn trăm năm với tôi, nàng đã ban phát cho tôi một ân huệ vĩ đại nhất trên cõi đời nầy đó là trái tim. Một kẻ tàn phế lết ăn xin khắp phố phường mà cũng được yêu, cũng được làm chồng và cũng được có vợ thật là một ân huệ to lớn chưa từng thấy. Người con gái buồn nhiều hơn vui, nụ cười dường như vắng mất kể từ khi cha mẹ gục chết trên đường di tản ở Lâm Đồng vào giữa tháng Tư tối trời tang tóc. Thân phận côi cút mang đầy hận tủi lênh đênh vong ruỗi để rồi ban tặng cho người phế binh tất cả những gì mà người con gái tên Nga gìn giữ và có dược. Xin cảm ơn Thượng Đế đã cho con một viên ngọc quý mà trên cõi trần gian nầy con đã vinh dự được đón nhận. Trời ơi! Ở trên đòi nầy có ai ? Có ai đủ can đảm bỏ hết tất cả để lấy một thằng ăn mày mù, cụt, bai liệt như tôi không? Khi người con gái tên Nga ấy thương tình chấp nhận xẻ chia những đắng cay của cuộc đời còn lại tôi khóc nhiều lắm. Khóc vì vừa cảm động, vừa kính phục, vừa trân trọng đã làm cho tôi yêu quý nàng như một Thiên Thần mà không bao giờ tôi dám mơ và nghĩ tới. Chúng tôi bắt đầu sống một cuộc sống mới bằng sức tàn và khả năng hạn hẹp có được. Sự cần kiệm tích luỹ nhiều ngày chúng tôi đã có được cái chòi lá để ở qua công sức thức khuya dậy sớm để đi làm thuê làm mướn của nàng. Rồi những đứa con lần lượt được chào đời trong thiếu trước hụt sau như để minh chứng cho tình yêu hai đứa tôi. Nhìn những đứa con lớn dần bằng khoai củ nhiều hơn gạo mà thương quá là thương cho người vợ đảm đang đầy nghị lực để vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ. Một trai, ba gái lớn dần và chúng tôi cùng đã bắt đấu lo lắng và thao thức về việc học hành cho chúng. Gần tới ngày tựu truòng là nồi cơm độn khoai sắn nhiều hơn thường lệ, thức ăn phải mặn thêm nhiều cho đỡ tốn hầu tiết kiệm được ít tiền cho tập vở. Rồi cũng qua, tôi thế vai làm người mẹ trong gia đình lo việc bếp núc và săn sóc con cái, vợ tôi trong vai người cha bươn chải để kiếm tiền về nuôi gia đình, chúng tôi sống trong chật vật nhưng hạnh phúc bởi hết lòng lo cho nhau.
Hằng năm đến ngày 20-3 tôi đều kêu mấy con cố gắng chuẩn bị một nồi chè. Có khi là một nồi chè khoai mì, khoai lang, chè bắp hay chè đậu xanh vì làm rẩy chỉ có thế thôi, để mừng ngày mà người ăn mày thành hôn vói người con gái can đảm tên Nguyễn thị Nga, người con gái ấy đã chấp nhận chôn cả cuộc đời mình bên người chiến binh bệnh hoạn, mù, cụt và bại liệt thêm vào đó mảnh đạn còn nằm trong lá phổi thỉnh thoảng bị nó hành hạ khủng khiếp và có lẽ triền miên đến ngày xuôi tay nhắm mắt. Cũng có một vài lần mừng kỹ niệm ngày 'hấp hôn' có sự hiện diện một vài người bạn phế binh gần gũi đến chung vui và chia xẻ.
Bây giờ ai cũng già và yếu đi nhiều vì đói khổ và lao động quá sức. Kiếm tiền nuôi chồng con, có được cái ăn đã là khó lắm rồi mà đàng nầy còn phải lo cái học cho các con thì phải nói vất vả vô cùng. Có lần đọc được tâm thư của Hội gởi về từ những anh thương phế binh vùng lân cận, chúng tôi hết sức bàng hoàng và cảm động vì tưởng trên cõi đời nầy chẳng còn ai nhớ đến thân phận bọt bèo của chúng tôi. Cảm ơn thật nhiều đến với bà con Việt Kiều ở Úc Đại Lợi đã giang tay đùm bọc chúng tôi trong những ngày tàn cuộc đời. Lần nhận được tiền vừa rồi người thiếu phụ đen đuổi ốm tong ốm teo vừa mừng vừa khóc khi tay cầm chặc bó tiền hơn một triệu đồng, thỏ thẻ với tôi: "Em tự nguyện lấy anh như một tri ân đối với người chiến sĩ và để đáp đền sự hy sinh của người phế binh đã hy sinh những phần thân thể cho Tổ Quốc ... Tưởng không còn ai nhớ đến các anh. Nay em vui sướng quá vì có người nhớ đến chồng em ... đã hy sinh cho đất nước ..." Tôi khóc thật nhiều khi lần đầu tiên, sau hai mươi mấy năm chung sống tôi mới biết rõ lý do mà người con gái tên Nga ấy chấp nhận lấy tôi. Cảm ơn Trời đã cho tôi người vợ đã thể hiện lòng tri ân và sự đáp đền bằng cả cuộc đời chôn chặc bên người ban cùng trường tàn phế như một định mệnh đã an bài.
Không riêng gì vợ tôi mà tất cả những người Thương Phế Binh bên quê nhà xin trân trọng cảm ơn quý ân nhân đã giang tay giúp đở. Xin cho chúng tôi gởi lời cám ơn Hội đã thực hiện chương trình cứu trợ Thương phế binh bị quên lãng cho chúng tôi được ấm lòng khi tuổi đời sắp ngã bóng và tương lai của thế hệ con em chúng tôi đang bi đe doạ bỡi đói nghèo khó thoát qua cảnh tối đen thất học vì khả năng kẻ tàn phế không thể vương lên nổi. Xin được cùng vợ và các con chân thành kính chúc tất cả Việt Kiều ở Úc thành công, thắng lợi và vạn sự như ý.
Niềm Đau Muôn Thuở LE SOCTRANG gửi bài |
NIỀM ĐAU MUÔN THUỞ
Phế Binh Sài Gòn
Nguyễn thanh Nhàn
Trong quá khứ, chiến tranh ở quê hương tôi kéo dài triền miiên và sản sinh ra đũ kiểu người. Kẻ mù đui chống gậy lần mò, người què cụt khập khễnh bên đôi nạng gỗ, tệ hại hơn là bò lết hay liệt nằm một chỗ tiêu tiểu không kiểm soát được, không khác nào như những hài nhi nằm chờ cho ăn, nằm chờ tắm rửa, hôi thối nồng nặc bởi phân và nước tiểu bầy nhầy làm lở lói trông thật ghê tởm cho thân phận của những người không còn là con người, mà phải sống trong nhiều cảnh ngặt nghèo, đói rét tận cùng không sao tả xiết.
Hạt cát lỡ bay vào mắt hay bị xóc dầm vào da thịt tuy nhỏ xíu nhưng cũng làm cho chúng ta khó chịu và hành hạ chúng ta không ít, chưa kể đến nếu để lâu ngày bị làm độc, cương mũ hay đũ mọi biến chứng xãy ra.
Ấy mà! một viên đạn cắm phập vào đầu, nằm trong não ngay trung tâm chằng chịt của hệ thần kinh, thì làm sao chịu nỗi. Thế mà cũng phải ráng chịu cho quen và để tất cả mọi người thấy rỏ ràng là sự chịu đựng của người Việt Nam đến độ nào trong những hoàn cảnh đói rét rã rời, không một viên thuốc kềm hãm cơn đau, sống lang thang khắp chốn chợ đời từ những hóc xó, mái hiên, gầm cầu, sạp chợ và những nghĩa địa trong nỗi đau tức tưởi nghẹn ngào mà không biết giải bày cùng ai, để mong được xẻ chia, dù ít nhiều cũng cảm thấy cuộc đời bớt đi phần nào tủi nhục.
Ba mươi năm, đã ba mươi năm lặng lờ trôi qua sống trong nước mắt, không chỉ riêng nước mắt của người phế binh không, mà còn kéo theo những giòng lệ thảm sầu của nhửng người Cha, người Mẹ, người Vợ, người Con của nhửng kẻ bất hạnh đã trót sinh ra trong một vì sao kém may mắn ở một quốc gia chinh chiến kéo dài và mạng người thật rẻ rúng chưa từng thấy trên cỏi đời nầy. Cái bậc thang giá trị con người của đất nước tôi không tính qua luân lý, tác phong, đạo đức, trình độ, hoàn cảnh mà chỉ định giá qua: "bằng tuyên dương" hoặc "có công với cách mạng" hay "bằng liệt sĩ". Còn cái mà bị gọi là ngụy quân, ngụy quyền thì dường như họ muốn triệt tiêu hết tất cả, để không còn bẩn mắt, chướng tai.
Ngày xưa, khi lệnh động viên được ban hành, thì tất cả những thanh niên trong hạn tuổi phải lên đường nhập ngũ. Tôi cũng không ngoại lệ. Không kể dông dài thì ai cũng biết đường đi phải đến của người lính là nghĩa địa hay quân y viện, mà tôi đã phải chiến đấu kinh khủng lắm mới được sống còn trong thập tử nhất sinh. Một viên đạn AK đã nằm sâu trong óc tôi, vị trí theo bác sĩ cho biết: hiện nằm ngay trung tâm đầu nào của các hệ thần kinh, nên không được mỗ, vì muốn đem đầu đạn kia ra, thì phải vén hết tất cả dây thần kinh cho ca giải phẩu, thì sẽ bị liệt hoặc chết ngay. Không một ông bác sĩ nào dám thò tay vào dù các ông ấy rất muốn cứu giúp tôi. Đành chịu, đó là số phận nghiệt ngã mà tôi phải mang lấy cho hết kiếp nầy. Đã vậy mà gia cảnh thì nghèo rách mồng tơi. Vợ con sống đói khát thiếu thốn theo người chồng bệnh hoạn từng cơn, khi đầu đạn AK vui buồn chuyển động.
Hằng ngày, tôi mưu sinh bằng nghề đạp xích lô, để nuôi gia đình. Rất nhiều lần đang đạp xe chở khách, viên đạn oan nghiệt tự dưng chuyển động, tôi té ngang giữa đường và hoàn toàn bất động, mắt trợn tròng cơ thể co giật, sùi bọt mép phải chở vào bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu, người ta đưa vô bệnh viện Chợ Rẫy riết đến nỗi nhân viên và bác sĩ quen mặt cho nằm đỡ, có khi ngoài hàng lang, chờ viên đạn nằm yên vào vị trí cũ, thì tôi hồi tỉnh trở lại bình thường và tự động xuất viện với một toa thuốc trên tay, chỉ có nước đốt uống, chứ tiền đâu mà mua thuốc!. Tiền bạc không có để nuôi ăn gia đình, thì lấy đâu mà khám bác sĩ để chửa trị, hay mua thuốc men trị đau nhức hoặc thuốc thần kinh giảm bớt co giật v.v.. Đầu thường thì đau buốt lắm khi đau nhức đến nỗi không còn thấy đường đi luôn, nên ngày càng làm cho thân thể tôi bệ rạc, tơi tả. Cuộc sống quá vất vã và thê thảm ngày một thêm đen tối, tương lai mịt mờ, nhiều lúc cơn đau vật vã và không còn muốn sống nữa. Nhiều người lầm tưởng là tôi bị bệnh giật kinh phong, nên khi tôi bị té, sùi bọt mép, cơ thể co giật vì đầu đạn xê dịch trong óc chạm hệ thần kinh, nên nhiều người muốn cứu cấp, lay tỉnh tôi, có người vừa nặng chanh vào miệng tôi, vừa cạo gió, vừa lay lắt mặt, kêu cho tôi tỉnh lại, những cứu giúp nhất thời đáng trân quý đó, lại vô tình làm cho đầu đạn nhút nhít nhiều hơn, trong óc, lắm khi tôi chịu không nỗi những hậu chấn, sau những lần được giúp đỡ. May mắn cho tôi, có người quen cùng xóm, hiện sống tại Úc, có cho điạ chỉ *Hội Cứu Trợ Thương Phế Binh, kêu gọi tôi gởi thơ, hình và những gì cần thiết sang Hội để được giúp đỡ. Tôi đã làm xong mọi thủ tục và tháng ba vừa rồi, tôi có nhận được 100 đô Úc, ngay lúc tôi vừa từ bệnh viện về. Cơn đau biến mất, khi niềm vui quá lớn đối với tôi trong những ngày tưởng chừng như nằm chiêm bao, chứ làm sao có được. Cả nhà chúng tôi như ngày hội lớn, vợ tôi lật đật chạy mua cho tôi một ít thuốc trong một đống toa bao lâu nay bác sĩ cấp, mà chưa hề đụng tới. Nhờ một vài viên thuốc trị đau nhức được uống vào, tôi được phục hồi nhanh chóng, nhìn trên bếp thấy có rau, có cá vá góc nhà có một bao gạo, bấy nhiêu đó tôi cũng đã thuyên giãm cơn đau nhiều lắm rồi. Hạnh phúc đã đến với chúng tôi, thực sự sau gần 30 năm, chúng tôi không bao giờ nghĩ đến có ngày hôm nay. Những người hoàn toàn không quen, chưa một lần biết mặt, mà đã có những tấm lòng bao dung, bác ái, giúp đỡ cho chúng tôi, những cái mà thực sự chúng tôi rất cần ngay trong lúc nầy, hầu mới mong sống còn lây lất. Kính thưa quý vị mạnh thường quân, quý vị ân nhân ở Úc Đại Lợi là chúng tôi đã và đang sống thua những con vật bên quê nhà. Không ai màng đến sự hiện diện của chúng tôi trên cỏi đời nầy, sự rẻ khinh và miệt thị thì chúng tôi đã cay đắng chấp nhận nhiều năm rồi, nhưng cơn đói, bệnh đau, vết thương hoành hành chúng tôi chịu không thấu. Mong sao chúng tôi được một vài viên thuốc khi đớn đau, một chén cơm trong khi đói, một chiếc áo lành để che chắn trong những đêm đen mưa gió, có lẽ chúng tôi mãn nguyện và hạnh phúc lắm rồi. Tội nghiệp anh Thanh, cụt hai tay và hai chân, chỉ ngồi một chổ, chờ sự lo lắng từ người thân. Tội nghiệp hơn nữa là anh Ngân, anh Thiệt nằm liệt một chổ, tiêu tiểu hoàn toàn không cảm giác. Còn anh Da, ngoài thân thể nát tan, còn chấn thương sọ não, nên hoàn toàn không biết gì, nói cười bậy bạ, như người đến từ hành tinh khác. Chúng tôi toàn là những con người khiếm khuyết đũ mọi mặt, từ tinh thần, đến thể xác, mà không còn cách nào để phuc hồi ngoại trừ có phép nhiệm mầu nào đó. Mong lắm, nếu có được phép lạ thay đổi được phần nào khốn khổ cho chúng tôi được nhẹ nhàng trong những tháng năm còn lại, cho những tiếng thở dài, rên rỉ giữa đêm khuya không còn nữa. Ra đường nhìn thấy những tàn phế binh Cộng Hoà mưu sinh, đũ mọi phương cách, mà xót thương, mà tủi, mà nhục. Nói về các chị, chắc cũng không bút mực nào viết hết, những cao cả hy sinh, chấp nhận tủi nhục theo chồng, cho trọn lòng thuỷ chung suốt kiếp. Có lẽ, trên trần thế nầy chỉ có những người đàn bà Việt Nam là cao cả nhất, chịu đựng nhiều nhất và không xa rời được cái Tam Tòng, Tứ Đức mà truyền thống Phụ nữ Việt Nam coi là khuôn thước phải theo cho trọn đạo. Những nghịch cảnh trớ trêu, những oan khiêng đày đoạ, những đắng cay, tủi nhục, không còn cái gì mà người phế binh Cộng Hoà, cùng vợ con chưa phải nếm qua suốt ba mươi năm nay. Giờ đây những hạnh phúc sớt chia, những tình người rộng mở, những trái tim từ ái chốn xa xôi đã và đang rót về xoa dịu biết bao nỗi thương đau nhọc nhằn, mà những người kém may mắn như chúng tôi, có được những nụ cười hạnh phúc, sau mấy mươi năm không ai ngó ngàng gì tới, trong niềm đau muôn thuở.
Xin nguyện cầu ơn trên hãy độ trì cho những anh, những chị có lòng được bằng an, may mắn và thành công tốt đẹp, hầu những con người đói rách tơi tả như chúng tôi được còn cơ hội có cơm, có áo.
Trân trọng cảm ơn tất cả những vị ân nhân, mạnh thường quân đã cho chúng tôi được bửa cơm ngon, ngủ những đêm êm ấm áp, trong tình người được chia xẻ.
Phế Binh Sài Gòn
Đàn Áp Người Thượng Cao Nguyên Vu Hoàng |
Thưa Ykien.net và qúi độc giả,
Sự thật về chế độ Cộng Sản có dân chủ hay không, tự do hay không, tự do sinh hoạt tâm linh hay không, thiết nghĩ đã rõ ràng rồi. Bao nhiêu người bị ngược đãi, bị trấn áp, bị phũ đầu, bị hành hạ từ thời Trại Tù Binh Lính Việt nam Cộng Hoà sau ngày 1975. Bao nhiêu cuộc bách hại ở nhiều hình thức đối với tôn giáo, Mục Sư, Linh Mục, Hoà Thượng, Thượng Toạ, Nhà sư, các nhà Truyền Giáo, và những người bất đồng chinh kiến. Thiết nghĩ đũ để chúng ta hiểu bản chất của chế độ Cộng sản rồi. Cuộc nổi dậy của những người Thượng tại cao Nguyên Trung phần Việt nam năm 2001 và mới đây 10. 04, 2004. Chúng ta hiểu sự căng thẳng của đời sống người Thượng đến mức nào. Linh Mục Nguyễn Văn Lý người có tên tuổi, Hoà Thượng Huyền Quang, Mục sư Nguyễn Hồng Quang ... đựơc khắp nơi biết, tên tuổi mà còn đàn áp trắng trợn, thô thiển và gian manh như bọn côn đồ, huống chi những người Thượng thấp cổ, bé miệng, nghèo khổ, không cơm ăn, không áo mặc ở nơi cùng cốc. Họ không có súng ống, vũ lực, không có bất cứ thứ gì để chống đối ai. Họ chỉ có tâm hồn của con người, khao khát tự do căn bản để sống, để tự do và để được hạnh phúc trong cái nghèo khổ của họ, vậy mà họ không được một quyền tối thiểu lẻ ra họ phải được. Quyền đó là tự do nguyện cầu, sinh hoạt tâm linh, tôn thờ Đấng Thiêng Liêng. Đất đai cũng bị hợp thức hoá thu, mượn ở nhiều hình thức. Vậy họ cùng đường phải bày tỏ một bức bách quá lớn là đìều dĩ nhiên.
Sự kiện Ông Lê Dũng, phát ngôn viên Ngoại giao của Việt nam "cho sự đàn áp, ngăn cản người Thượng sinh hoạt tín ngưỡng là bịa đặt." Chúng ta không cần xét lời này đúng hay sai, thật hay giả. Có khi nào kẻ ăn cướp đi nhận mình ăn cướp, kẻ gian nhận mình là gian, hay là kẻ gian manh ngoài đường lại nhận mình là gian manh. Trái lại còn có lời ngon ngọt để thuyết phục người đi đường là mình tốt, mình đạo đức chú ?
Qua biết bao nhiêu sự kiện liên quan đến chính quyền Cộng sản Việt nam trong vòng 4 năm lại đây, thiết nghĩ những người có vai trò trong chính quyền VN hiện nay, cần bình tĩnh ngồi xuống xem lại chính sách, đường lối và những giá trị mình xây dựng như thế nào, có hợp lòng dân không, có thật sự đem lại ích quốc lợi dân không, có đi theo trào lưu dân chủ thế giới không ? Đừng sử dụng quyền hành lịch sử trao cho mà tự tung tự tác. Lịch sử sẽ phán quyết từng cá nhân riêng lẽ, dù bao nhiêu đời sau thì lịch sử cũng ghi lại để phán xét công minh. Tần Thuỷ Hoàng vua đầu tiên Trung Hoa, gian ác cũng không còn, Hitler độc tài cũng để tiêng đời nguyền rủa, Erick Honech kơ, 40 năm cầm quyền tại Đông Đức, những ngày cuối đời đau buồn trong trại tù vì những năm cai trị của mình. Gần dây Saddam cũng đang bị chính người dân Iraq hận thù, người sắc tộc Kurd, người Kuwait căm ghét, người Israel đã có kế hoạch ám sát. Rồi đây, Saddam sẽ thế nào, hãy chờ lịch sử phán xét. Tin rằng lịch sử là quan toà công minh.
Vài dòng suy nghĩ xin cùng góp với YKien.net
Kinh chào
Tản mạn thêm về hai chữ “Việt kiều” Đặng Xuân Khánh |
Trong thời kỳ còn chiến tranh, số người Việt mang quốc tịch nước ngoài và định cư tại nước ngoài rất ít. Đa số thuộc thành phần đi du học dưới chế độ VNCH cũ. Hai chữ “Việt kiều” được dùng để chỉ số người gốc Việt sống ngoài nước Việt nam này.
Khoảng đầu thập niên 1970, rất nhiều người Việt sống tại Kampuchia (Cam-bốt), không mang quốc tịch Miên, ào ào trốn chạy trở về VN vì nạn “cáp duồn” của người Miên bản xứ, và chính phủ Miền Nam thời bấy giờ có chương trình giúp đỡ những người này gọi là chương trình “Việt kiều hồi hương”
Sau chiến tranh, số người Việt định cư tại nước ngoài càng ngày càng gia tăng, và đa số đã gia nhập quốc tịch trở thành công dân của quốc gia mới nơi họ đang sinh sống. Trên căn bản pháp lý thì họ đã thuộc về những quốc gia mới này, không còn quan hệ pháp lý gì với VN, vì các quốc gia này và cả VN không công nhận tình trạng song tịch. Do đó, khi tuyên thệ gia nhập quốc tịch mới, là đương nhiên từ bỏ quốc tịch cũ (nếu có)
Rồi hai chữ “Việt kiều” vẫn được dùng để chỉ tất cả những người gốc Việt mang quốc tịch mới này, có lẽ vì ta không có một từ nào để gọi cho xuôi tai hơn. Nếu gọi họ là Mỹ kiều (gốc Việt) hay Pháp kiều (gốc Việt) thì có vẻ chướng tai và có cảm tưởng là “mất gốc”. Do đó, nhiều người cảm thấy thoải mái hơn với hai chữ “Việt kiều”, tuy rằng nó không đúng nghĩa về pháp lý, và “Việt kiều” được mặc nhiên công nhận là “tất cả những người gốc Việt định cư ở nước ngoài”.
Đặng Xuân Khánh
Chuyện Bên Lề Về Phim The Passion Of The Christ Nguyễn Ngọc Lan |
CHUYỆN BÊN LỀ VỀ PHIM THE PASSION OF THE CHRIST
Chưa một bộ phim khác nào của Hollywood đã gây ra những xáo trộn mức độ kỷ lục trong xã hội và cuộc sống con người, giống như phim “ The Passion of the Christ”.
Tính đến ngày hôm nay, sau 6 tuần chiếu ở Mỹ và Canada, người ta đã thu nhập vào khoảng 350 triệu đô la. Đây là mức độ kỷ lục tương đương với phim “Ti-tanic” hay “The Lord of the Ring”. Tuy nhiên nếu so với số vốn bỏ ra để làm phim thì chưa có phim nào đạt được hiệu quả như phim của ông Mel Gibson.
Hầu hết ở nhiều nước trên thế giới, phim “The Passion of the Christ” đạt mức kỷ lục về người xem và thu nhập.
Đặc biệt ở các nước theo đạo Hồi giáo, nơi mà người ta không thể dung thứ những ai theo đạo Chúa, bộ phim này không những được chiếu một cách rộng rãi nhưng đã lôi kéo số lượng người xem ở múc độ không thể tưởng tượng được. Lý do đơn giản, bởi họ muốn coi dân Do-thái giết một tiên tri cách nào. Tuy những người phản đối từng dựa vào lý luận: bộ phim này sẽ gây thêm mối thù hằn đối với người Do-thái, nhưng sau sáu tuần chưa ai ghi nhận một hành động phá hoại nào gây ra bởi những người đã xem phim. Còn những người A-rab, dù xem hay không xem, họ cũng không thể cảm tình dân Do-thái và luôn sẵn lòng quét Israel xuống đáy biển Địa Trung Hải.
Khi tranh cãi ai là người giết Chúa, người ta quên rằng chính Chúa là người bị đóng đinh lơ lửng trên cây thập tự giá, đã thốt lên lời cầu nguyện đầy tình yêu thương "Thưa Cha, xin Cha tha thứ cho họ bởi họ chẳng biết mình đang làm gì."
Ai là người giết Chúa không quan trọng bằng ai là người được Chúa tha thứ.
Có bộ phim nào mà người xem ngừng thở trong rạp không ? Khi xem bộ phim the Passion of the Christ, một ông mục sư người Brazil không tỉnh dậy nữa để ra về cùng vợ. Một bà người Mỹ phải đi bệnh viện cấp cứu, cũng đi luôn. Tuy nhiên, với số lượng người xem đông như vậy, xác xuất những điều đáng tiếc xảy ra trong rạp không thể so sánh với tai nạn hàng ngày trên đường phố. Mel Gibson tâm sự: “Đây không phải là một bộ phim giải trí, nhưng là một kinh nghiệm, một sự từng trải cho người xem.”
Không phải ai cũng tiếp nhận được những kinh nghiệm quý báu từ bộ phim này. Một đôi vợ chồng Mỹ đã cãi lộn nhau về việc Chúa có thật hay không có thật. Từ to tiếng kéo đến ẩu đả, từ ẩu đả đưa đến sự can thiệp của cảnh sát, cuối cùng cả hai ông bà bị phạt mỗi người 1000 đô la. Ông chủ nhà thú nhận sau khi tỉnh ngộ: “Đây là điều ngu xuẩn nhất mà chúng tôi mắc phạm trong đời.”
Câu chuyện trên chỉ là một điển hình cá biệt, cười ra nước mắt. Tuy nhiên hầu hết người xem rời khỏi rạp với những dòng lệ chân tình và lương tâm thức tỉnh.
Sau khi xem xong bộ phim, một ngưòi Na-uy, Johnny Olsen, 41, đã ra cảnh sát thú nhận tội nổ bom khủng bố ở trụ sở nhóm chống đối, trong giữa thập niên 90.
Một người ở tiểu bang Texas ông Dan R. Leach, 21 đã giết bạn gái mình19 tuổi. đang có thai vì hắn không muốn nhận đứa trẻ ra đời. Cảnh sát lầm tuởng đây là một vụ tự sát cho đến khi Leach xem xong cuốn phim Nỗi Khổ Hạnh của Chúa Cứu Thế, ăn năn và thú nhận mình trước hình sự.
Chưa hết, , ông James Anderson ở Palm Beach , Cali cũng nộp mình cho tòa án bởi tội cướp nhà băng cách đây hai năm ... Một thanh niên 20 tuổi, Turner Lee Bingham đã ra mắt cảnh sát và thưa rằng minh là thủ phạm trong 5 hay 6 vụ đập cửa dật đồ ...
Đây là những ví dụ về những người đã coi phim "Nỗi khổ hạnh của Chuá Cứu Thế" và sẵn sàng nhận hình phạt của con người để đổi lấy sụ thương xót của Đức Chúa Trời. Trong cả trăm triệu người đã xem cuốn phim trên trong tháng qua không biết còn có bao nhiêu sự thay đổi trái tim khác mà báo chí chưa biết đến.
Mới ra mắt khán giả 6 tuần mà cuốn phim “The Passion of the Christ” đã phá biết bao nhiêu kỹ lục như vậy, không biết sau một năm chúng ta sẽ còn chứng kiến được những gì? Sớm muộn bộ phim này sẽ đi vào lịch sử và có thể bị lu mờ bởi những bộ phim khác, nhưng kinh nghiệm nhận được sẽ sâu nhiệm mãi trong lòng khán giả cho đến trọn đời.
Nguyễn Ngọc Lan
(Sưu tầm theo Yahoo news)
Xin trao đổi thêm với bạn Nguyễn Hùng về hai chữ "Việt kiều" Đặng Xuân Khánh |
1/ Đúng như bạn đã đề câp: «hai chữ "Việt Kiều" này vẫn dùng để chỉ người gốc Việt Nam sinh sống (lâu dài), định cư (kể cả mang quốc tịch nước khác, quốc tịch ở đây hiểu là được trao, được cho - granted) ở nước ngoài».
Tôi không phủ nhận điều này. Nhưng "vẫn dùng" không có nghĩa là "chính xác" là "đúng", mà do người Việt ta dùng mãi rồi thành thói quen, rồi được mặc nhiên chấp nhận theo thời gian. Tiếng Việt có nhiều danh từ được dùng không đúng chỗ hoặc dùng sai nghiã, nhưng vì dùng riết rồi trở thành thông dụng.
2/ Bạn viết : «Chữ Kiều (gồm bộ Nhân với bộ Kiều) theo gốc chữ Hán có nghĩa là "ở nhờ, đi ở nhờ, đi ở (sống ở) nước khác ..."»
Như vậy, chữ "kiều" không có nghĩa là "mang quốc tịch" hay là "công dân" của quốc gia mà "kiều dân" đó đang sinh sống.
Chữ "kiều" có nghĩa là "ở nhờ, đi ở nhờ, đi ở (sống ở) nước khác ...". Do đó, "kiều dân" (foreigner) chỉ là người sống (tạm thời, không có ý định gắn bó muôn đời) tại một quốc gia khác. (foreigner: a person who comes from a foreign country; someone who does not owe allegiance to your country) (*)
Tương tự, "Việt kiều" chỉ là người gốc Việt nam "ở nhờ, đi ở nhờ, đi ở (sống ở) nước khác ..." "Việt kiều" không phải là "công dân" của quốc gia họ đang sinh sống.
Còn thí dụ như người Việt mang quốc tịch Mỹ (Mỹ gốc Việt) thì họ không "ở nhờ, đi ở nhờ, đi ở (sống ở) nước khác ...", mà họ mang quốc tịch Mỹ, là công dân Mỹ (citizen: a native or naturalized member of a state or other political community) (*)
Về phương diện pháp lý, khi ai đã mang quốc tịch của quốc gia khác (ngoại trừ các quốc gia chấp nhận song tịch) thì họ là "công dân" (citizen) của quốc gia đó, và không còn thuộc về quốc gia họ đã sinh ra, nên họ không phải là "kiều dân" (foreigner)
3/ Báo chí nước ngoài khi đề cập đến một người Mỹ, hay Úc gốc Việt, họ vẫn gọi là "Vietnamese American" (người Mỹ gốc Việt) hay "Vietnamese Australian" (người Úc gốc Việt), chứ không gọi trơn là "Vietnamese" (người Việt hay Việt kiều).
Trân trọng
Đặng Xuân Khánh
Về bài "Hai chữ Việt Kiều" Nguyễn Hùng |
Chúng tôi cũng đã đề cập tới hai chữ Việt Kiều trên một diễn đàn khác (diễn đàn "Văn hóa Việt Nam" ở Úc), nhân đọc được bài sau, qua mạng Ý Kiến cho tôi gửi vài dòng trao đổi tới tác giả đôi dòng như sau.
Hai chữ Việt Kiều tác giả giải thích hoàn toàn không chính xác (nếu không nói là sai hoàn toàn nghĩa) với nghĩa của hai chữ "Việt Kiều" này vẫn dùng để chỉ người gốc Việt Nam sinh sống (lâu dài), định cư (kể cả mang quốc tịch nước khác, quốc tịch ở đây hiểu là được trao, được cho - granted) ở nước ngoài. Chữ Kiều (gồm bộ Nhân với bộ Kiều) theo gốc chữ Hán có nghĩa là "ở nhờ, đi ở nhờ, đi ở (sống ở) nước khác ...". Khi dùng từ Hoa Kiều, nghĩa là chỉ người gốc Hoa sống, định cư ở nước khác, Pháp Kiều nghĩa là người gốc Pháp sinh sống hoặc định cư ở nước khác ... có thể những người này đã mang (granted) quốc tịch khác. Còn người gốc Việt sống ở Mỹ gọi là Việt Kiều ở Mỹ, tương tự có Việt Kiều ở Úc ... Như vậy từ Việt Kiều chỉ toàn bộ những người gốc Việt sinh sống, định cư (và cả trường hợp mang quốc tịch nước khác) ở nước khác (khác Việt Nam). Từ Việt Kiều không dùng để chỉ những người Việt Nam đi làm hoặc đi học (sống tạm thời) ở nước ngoài. Cũng tương tự từ Pháp Kiều, Nhật Kiều ... không chỉ những người đi du lịch, làm việc ngắn ngày (tạm thời) ở nước ngoài.
Xin góp ý về hai chữ "Việt kiều" Đặng Xuân Khánh |
Chữ "kiều" trong tiếng Việt, dùng theo sau một người thuộc về một nước nào thì có ý để chỉ người nước đó đang làm việc, sinh sống hoặc đang tham quan du lịch tại một quốc gia khác.
Thí dụ:
Người mang quốc tịch Trung hoa, làm việc, sinh sống, du lịch ở VN thì gọi là Hoa kiều
Người mang quốc tịch Pháp, làm việc, sinh sống, du lịch ở VN thì gọi là Pháp kiều
Người mang quốc tịch Úc, làm việc, sinh sống, du lịch ở VN thì gọi là Úc kiều
Người mang quốc tịch Mỹ, làm việc, sinh sống, du lịch ở VN thì gọi là Mỹ kiều
Một người mang quốc tịch Mỹ gốc Việt, sống ở Mỹ thì là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American) chớ không phải là «Việt kiều». Cùng trường hợp, một người mang quốc tịch Úc gốc Việt, sống ở nước Úc thì là người Úc gốc Việt (Vietnamese Australian), chớ không phải là «Việt kiều» - Thí dụ như một người Việt mang quốc tịch Úc bị tuyên án tử hình ở Singapore mới đây vì mang bạch phiến trong người, thì báo chí và các cơ quan truyền thông tại Úc và Singapore gọi anh ta là một "Australian national", "Vietnamese Australian" chớ họ không gọi là Vietnamese (người Việt hay Việt kiều). - Trong khi đó, những người trên chiếc tàu vượt biên của người Việt đến Úc hồi năm qua thì được gọi là "Vietnamese nationals" (vì họ chỉ mang mỗi quốc tịch VN)
Do đó, người Mỹ (gốc Việt), đang làm việc sinh sống ở VN, hay về thăm thân nhân ở VN thì phải gọi là Mỹ kiều (gốc Việt), hay cho rõ ràng là người Mỹ gốc Việt, chớ không thể gọi là «Việt kiều» - Tương tự với những người mang quốc tịch Úc, Pháp, Gia nã đại ... gốc Việt.
Cụm từ «Việt kiều» trong tiếng Việt dùng để chỉ những người gốc Việt, chỉ mang mỗi quốc tịch Việt Nam, đang sinh sống, làm việc, du học hay du lịch ở ngoài nước Việt Nam, như các thành phần đi lao động nước ngoài, du học sinh, nhân viên các sứ quán của nhà nước CS Việt Nam ... thì chính xác hơn.
Còn chữ «Việt kiều» nếu dùng để chỉ người Việt đang mang quốc tịch nước ngoài (không mang hộ chiếu Việt Nam) là không đúng.
Viết Tên Anh BQK |
VIẾT TÊN ANH
kính tặng những anh hùng tiên phong và gia đình Bảo Quốc Kiếm
Từ nhập thai tử sinh cùng có mặt
Chỉ hơn thua trong một tiếng anh hùng
Thì ngại gì sinh tử phải không anh
Chọn cái chết vinh quang là sống mãi
Vũ Bình ơi đôi chân không trở ngại
Chướng nạn nào ngăn được bước anh đi
Chí Quang minh bằng tuổi trẻ hồn nhiên
Đang mở cửa đi vào thiên kỷ mới
Và Hồng Sơn đỉnh non cao diệu vợi
Đang trở thành tiêu điểm của muôn dân
Đừng ngại chi những bước đã lỡ lầm
Vì hiện tại sẽ chứng minh tất cả
Phạm quế Dương như bóng tùng muôn thưở
Hà sĩ Phu là điểm sáng trong đêm
Vì Trần gian đau khổ Độ mê sinh
Là hạnh nguyện của từ bi cao cả
Hãy bước tới dù gian lao vất vả
Xé cờ hồng tô điểm lại non sông
Viết tên anh vào muôn triệu buồng tim
Để sống mãi với hình hài Tổ Quốc
Vinh quang nào không viết bằng tủi nhục
Khó khăn nào ngăn ngại được lòng son
Đã có người lãnh "Quốc ấn Tiên phong"
Hởi già trẻ mau lên đường cứu nước.BQK-03-04-04
http://www.ykien.net |