Kỹ sư Nguyễn Ngọc Lan

Thuyết Tiến Hóa
Phần 3

Lời nói đầu
Bạn có biết, theo hai định luật nhiệt động lực học, muôn vật đang ở trong quá trình thoái hóa chứ không tiến hóa. Còn khả năng các thành phần hóa chất kết hợp với nhau một cách tình cờ để trở nên một tế bào sống là con số không. Một tế bào đơn giản nhất bao gồm khoảng 1000 protein. Cho dù có tế bào nào đơn giản hơn nữa, chỉ gồm 200 protein, xác xuất hình thành một tế bào sống là một trên giai thừa hai trăm. Dù thiên nhiên có mày mò thí nghiệm, kiên nhẫn mấy chăng nữa, xác xuất toán học và tuổi của vũ trụ, trái đất cũng không cho phép điều đó xảy ra. Sau đây là phần tiếp theo của cuộc bàn luận của hai hành khách bất đắc dĩ phải ngồi bên cạnh nhau.

3.1 Thuyết tiến hoá và Sinh vật học

Bà Giáo sư: Thế giới sinh vật khác với máy móc cơ khí thuần túy, xin ông đừng nói đến cái máy lắp xương hay cái đồng hồ của ông.

Ông Mục sư: Bà nói cũng có lý, sinh vật khác với khoáng vật bởi ít nhất là khả năng sinh sản. Có hai định luật về tính bất biến của sự sinh sản (immutability): Thứ nhất là "chỉ có sự sống mới sinh ra sự sống", thứ hai là "cha nào con ấy". Theo định luật thứ nhất, ruồi nhặng không tự nhiên sinh ra tù đống rác, nhưng sinh ra từ trứng ruồi. Theo định luật thứ hai, ong vò vẽ sinh ra ong vò vẽ chứ không sinh ra ong mật, đừng nói đến chuyện sinh ra ruồi trâu hay chuồn chuồn.

Thế mà thuyết tiến hóa muốn chúng ta tin các tế bào nguyên thủy sinh ra từ các hóa chất không có sự sống. Thuyết ấy cũng nói rằng trong một hoàn cảnh nào đó, luật cha nào con nấy bị "treo giò", để hợp chất vô sinh biến thành tế bào hữu sinh, để cho con cá biến thành con ếch, con rắn biến thành con thú v.v... Cả hai điều trên đều là giả thuyết, chứ không phải kết quả chắc chắn của bất cứ phòng thí nghiệm nào dựa theo các định luật khoa học.

Bà Giáo Sư: Chắc ông không biết về hai cuộc thí nghiệm của Stanley Miller năm 1953 tại trường Đại Học Chicago và của Sidney Fox năm 1958 tại trường Đại Học Miami ? Nhờ pha trộn các chất hóa học rồi cho tia lửa điện bắn phá mà họ chế ra được các A-xít A-mi-nô và chất prô-tein nhân tạo ...

Ông Mục sư: Ồ, tôi biết chứ, khi chưa tin Chúa tôi đã từng dùng những kết quả này để chứng minh rằng sự sống có thể bắt đầu đâu cần có Đấng nào tạo ra. Sau này tôi mới biết mình ngu. Những A-xít A-mi-nô và Pro-tê-in mà hai nhà khoa học kia chế được lại không phải những loại có trong các tế bào. Các nhà khoa học cũng đã từng chế ra một quả trứng nhân tạo với đủ các thành phần hóa học, nhưng không thể cho nó sự sống và làm cho nó sinh ra gà con được.

Tôi biết khoa học ngày càng phát triển và sẽ tạo ra nhiều sản phẩm thật kỳ diệu hơn. Tuy nhiên, chúng không bao giờ hình thành một cách tình cờ, mà phải có bàn tay khối óc của các nhà khoa học điều hành, pha chế có chủ đích. Cũng vậy, thế giới sinh vật xung quanh chúng ta chẳng tự nhiên mà có nhưng được tạo ra bởi Một Quyền Năng và Trí Tuệ cao siêu hơn sức lực và hiểu biết của con người.

Theo Kinh Thánh, ban đầu Đức Chúa Trời ban sự sống cho muôn loài và Ngài sáng tạo thực vật và động vật theo từng loài, từng giống, từng hệ của nó. Chính Đức Chúa Trời đặt ra các nguyên tắc bảo toàn nòi giống mà tất cả mọi sinh vật trên Trái Đất này tự động làm theo. Các con vật khác loài không thể giao phối với nhau để tạo ra loài mới, trừ trường hợp ngoại lệ là con ngựa kết hợp với con lừa, nhưng đáng tiếc thay con la lại không có khả năng sinh sản để duy trì nòi giống được.

3.2 Thuyết tiến hóa và di truyền học

Bà Giáo sư: Vậy xin ông hãy giải thích vì sao có nhiều giống chó hay giống người vậy ?

Ông Mục sư: Các giống chó tuy khác nhau về hình dạng nhưng chúng cùng một loài. Khi hai con chó khác giống kết hợp với nhau, hậu tự của chúng cũng vẫn là con chó, hay sủa, hay cắn, thích ăn đồ thối và hay nhấc chân sau lên khi đứng cạnh một gốc cây ...

Qua nhiều thế hệ được nhân giống có-chủ-ý, người ta có thể tạo cho các giống chó vô cùng khác biệt như giống chó Chu-oa-oa nhỏ đến mức có thể nằm trong lòng bàn tay và giống Thánh Bơ-nát (St. Bernard) lớn ngang con gấu nâu. Điều này tưởng giúp chúng tay giải thích thuyết tiến hóa, nhưng thật ra lại càng dẫn đến kết quả ngược lại. Thứ nhất, các con chó cực nhỏ và cực lớn như vậy không tự nhiên mà có, nhưng cần có bàn tay khối óc của con người điều hành trong quá trình sinh sản. Thứ nhì, chúng rất khó sống, cần phải được nuôi dưỡng cẩn thận bởi chủ nhân. Thả ra ngoài rừng, chúng là những giống dễ chết hơn các con chó cún tầm thường. Thứ ba: Nếu cho tất cả các loài chó nhà và chó rừng sinh sống và giao cấu một cách tự nhiên, sau một số thế hệ con cháu chúng lại trở nên giống chó nguyên thủy. Những điều này chứng minh rằng chó trước sau như một vẫn là chó, theo mã hóa di truyền mà Đức Chúa Trời đã đặt vào tổ tiên của chúng.

Trong loài người, chẳng có sự khác biệt nào rõ ràng nhau hơn là sự khác biệt giữa người da trắng và người da đen, cả về nước da, màu mắt, nét mặt, dáng đi. Khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc còn hưng thịnh, người ta còn cho rằng người da đen không thuộc loài người nữa. Ngày nay khoa học đã chứng minh rằng họ có cùng cơ chế sinh lý giống hệt như bất cứ chủng tộc nào khác. Máu của người da đen có thể tiếp cho người da trắng, thận của người da trắng có thể cấy vào người da đen V.v... Khi người da "cực trắng" từ Bắc Âu kết hợp với người da "cực đen" từ Nam Phi, con cái của họ vẫn là con người 100%. Ngược lại, nếu đem tinh trùng của con người thụ tinh cho trứng của một con vượn cấp cao nhất, kết quả đạt được là con số không. Sở dĩ như vậy là vì trong vòng loài người, dù da trắng hay da đen, da nâu hay da vàng, ai cũng có một hệ thống gen hoàn toàn giống hệt nhau đặc trưng cho cơ chế sinh lý của loài người. Sự khác nhau bên ngoài nhu màu da chẳng qua là một số gen màu này trở nên tích cực hơn, trong khi các gen màu kia bị ức chế. Tuy bị ức chế nhưng chúng không bị phế thải. (Xin xem thêm ở phần nguồn gốc các dân tộc trong chương 4)

Sự sinh sản và duy trì nòi giống chỉ có thể xảy ra giưã các giống trong phạm vi một loài, bởi chúng có chung một hệ thống di truyền, chứ không thể xảy ra từ loài này sang loài kia được.

Bà Giáo sư: Ông thử giải thích hiện tượng này ra sao: Trên một hòn đảo với nhiều tảng đá màu sẫm có một giống chim hải âu màu đen. Đó là kết quả của sự diệt vong của những con chim hải âu màu trắng, dễ bị các con đại bàng phát hiện và làm thịt. Còn trên một hòn đảo bên cạnh với nhiều tảng đá trắng lại chỉ có những con hải âu trắng sinh sống vì các con đen đã bị đại bàng xơi hết rồi. Điều đó chứng minh hai giống hải âu được tiến hóa qua phương cách chọn lọc tự nhiên phải không ?

Ông Mục sư: Bà chắc quên rằng hai giống này cùng một loài và trong một loài có con đen, con trắng và con xám. Chúng có thể kết hợp với nhau để sinh ra các con chim con có màu trung gian. Chúng đều có một hệ thống mật mã di truyền đặt trưng của loài hải âu. Mỗi con chim đều có hai loại gen, một loại phụ trách màu trắng của lông và một loại phụ trách màu đen. Tùy theo môi trường mà gen phụ trách lông trắng trở nên tích cực hay tiêu cực so với gen lông đen, nhờ vậy con chim có thể hài hòa với màu sắc của hòn đảo. Các hòn đảo lại nằm xa nhau, môi trường sinh sống bị chia cách, không có sự thăm viếng của chim từ đảo khác. nên các con trong đàn kết hợp với nhau dẫn đến hiện tượng giao phối gần gũi. Khi con chim đực và con chim cái đều có gen phụ trách màu đen tích cực, các con chim con của nó sẽ tiếp tục có lông đen từ thế hệ này qua thế hệ kia. Dù lông nó có đen như than chăng nữa, trong các tế bào vẫn mang một hệ thống mật mã di truyền đặc trưng cho loài hải âu, với các gen phụ trách màu trắng bị ức chế. Khi một con hải âu trắng xuất hiện trên đảo và giao phối với một con lông đen, đàn con của chúng sẽ có lông xám do bởi gien phục trách màu trắng trở nên tích cực và làm thăng bằng với các gen phụ trách màu đen.

Vậy không phải con chim đen từ hòn đảo thứ nhất tiến hóa từ các con chim trắng và trên hòn đảo thứ hai thì ngược lại. Sự đồng màu trên mỗi hòn đảo là kết quả của sự thích nghi môi trường và sự giao phối gần gũi do bị chia cách về địa dư.

Bà Giáo sư: Nhưng trong quá trình sinh tạo ra tế bào mới, một số thông tin di truyền có thể bị sao chép sai trật, ví dụ do ảnh hưởng của tia phóng xạ. Chúng tôi gọi hiện tượng đó là đột biến di truyền. Có trường hợp đột biến di truyền khiến cơ thể con vật thích nghi với môi trường hơn và tồn tại. Có thể ban đầu chỉ có loài hải âu xám, nhưng một ngày nào đó có một con bị đột biến di truyền, các gen phụ trách lông trắng bị hư hại chỉ còn lại các gen phụ trách lông đen. Tình cờ màu đen lại là màu thích hợp với màu sẫm của hòn đảo nên nó sống lâu có khả năng tồn tại nhiều hơn so với các con khác. Điều đó có lý không ?

Ông Mục sư: Con chim bị đột biến di truyền trở nên đen thui, rồi con cháu của nó chỉ có màu đen vì các gen phụ trách lông trắng bị hư hại, điều đó có thể xảy ra. Màu lông của nó có thể hài hòa với màu sắc của hòn đảo. Tuy nhiên khi hòn đảo bị tuyết phủ trắng xóa, chúng lại là những nạn nhân đầu tiên cho đại bàng, trong khi các con hải âu màu xám và màu trắng vẫn ung dung sinh sống.

Thường thường các đột biến di truyền mang lại tai họa hơn là lợi ích. Y học đã thống kê 2000 căn bệnh có nguồn gốc trong sự thoái hóa gen. Khi điều ấy xảy ra con vật sẽ trở nên yếu hơn, ít khả năng tồn tại hơn những con vật bình thường. Có những người bị đột biến di truyền, như bệnh bạch tạng, tóc trở nên trắng, lông mày, lông tay và ria mép đều trắng một cách đáng sợ. Khi lớn lên anh ta chắc ít có khả năng lập gia đình hơn người thường, hơn nữa các cô gái thiếu gen màu như anh thật hiếm hoi, nên khả năng di truyền của anh cho thế hệ về sau thật hạn chế.

Các nhà khoa học đã tạo ra một loại gà không có lông nhờ thay đổi các gen phụ trách về lông của nó. Kết quả chúng ta có thể ăn thịt gà mà không phải nhổ lông. Người ta nói rằng loại gà này dễ sống ở nơi nóng nực so với loại gà có lông. Khổ tâm thay, nếu thả con gà đó ra ngoài trời, nó lại dễ chết hơn các con gà thường vì bị muỗi cắn. Dù nó có sống đến tuổi thanh niên, gà trống không thể đạp mái vì không thể vỗ cánh và gà mái không thể ấp trứng vì thiếu lông. Kết quả giống gà không lông nhờ đột biến di truyền không thể tồn tại và phát triển thành một loài mới được.

Một sinh vật cấp thấp thường có ít gen hơn động vật cấp cao. Nếu bị đột biến di truyền, số lượng gen trong nó sẽ bị mất đi chứ không thêm lên, hư hại đi chứ không lành mạnh ra. Vậy sinh vật chỉ có thể thoái hóa chứ làm sao có thể tiến hóa được ?

3.3 Thuyết tiến hóa và giải phẫu sinh lý

Bà Giáo sư: Một trong những bằng chứng về thuyết tiến hóa là giải phẫu sinh lý của cơ thể con người. Khi một bào thai phát triển trong tử cung của người mẹ, nó phải đi qua nhiều giai đoạn: Đầu tiên là tế bào đơn, sau thành tế bào kép, sau nữa nó trông giống như cá, có mang và dần dần nó giống như con nòng nọc, bò sát, khỉ và cuối cùng nó trở nên giống như người. Trong cơ thể con người còn có những bộ phận không cần thiết như a-mi-đan, ruột thừa ... Đó là di tích của tổ tiên của con người tiền sử mang tính động vật xa xưa. Chắc ông chẳng có cách gì phủ nhận những bằng chứng hùng hồn này ?

Ông Mục sư: Lý luận bào thai trong tử cung là các dạng sinh vật đang được tiến hóa, không những sai trật nhưng còn rất nguy hiểm vì nó cho phép người ta giết hại các em bé chưa có dịp chào đời. Hình dáng bào thai có vẻ giống như các sinh vật mà bà vừa nêu lên, nhưng đó không phải là cơ sở để kết luận đây là một quá trình tiến hóa thu nhỏ. Khi thấy bóng cây cam trên bức tường cũng giống như bóng cây táo, bà không thể kết luận rằng chúng có cùng một họ được. Ngay từ khi được thụ thai, tế bào trứng được phân đôi rồi lại phân đôi nữa, mỗi tế bào mới là một tế bào hoàn chỉnh có 46 nhiễm thể (23 từ mẹ và 23 tù cha) hoàn toàn khác biệt với tế bào con vật. Thứ tụ hình thành của các chi thể cũng đi ngược lại giả thiết của thuyết tiến hóa. ví dụ trái tim hình thành trước khi cơ thể có máu, lưỡi hình thành trước khi có răng ... Chi thể càng phức tạp bao nhiêu càng được hình thành sớm hơn để có đủ thời gian phát triển. Cái mà bà gọi là mang cá ở hài nhi chẳng có gì dính dáng đến hệ tuần hoàn nhưng là những phần để phát triển thành quai hàm, tai, các tuyến họng và nhiều chi tiết của mặt. Nhờ sử dụng kỹ nghệ chụp hình qua sợi thủy tinh người ta có thể nghiên cứu bào thai trong tất cả các giai đoạn phát triển và khẳng định rằng không có giai đoạn nào mà bào thai trong bụng mẹ không phải là con người 100%.

Nói về các bộ phận không cần thiết trong cơ thể chúng ta, ví dụ như tuyến yên, tuyến hạch nhân, ruột thừa hay xương cụt. Ngày xưa khi giải phẫu sinh lý chưa được nghiên cứu sâu, người ta cho đây là di tích của quá trình tiến hóa, không còn cần thiết nữa. Ngày nay chúng ta biết tất cả các tuyến đều giúp cho sự thăng bằng hóa học trong cuộc sống, hoặc sản xuất hoóc môn và các chất miễn dịch. Còn xương cụt có tác dụng bảo vệ phần dưới của cột sống và làm khung để treo một số thớ thịt của xương chậu. Con người không thể ngồi xuống được nếu không có xương cụt.

Tóm lại, sự giống cá và bò sát trong các quá trình phát triển bào thai, hay sự hiện diện của các cơ quan "có vẻ là thừa" chẳng giúp gì để chứng minh cho thuyết tiến hóa. Ngược lại ai sử dụng những lý luận ấy còn bị mang tiếng là thiếu học thức nữa.

Còn nữa:
Xin đón đọc Thuyết phần 4, nói về Địa chất học và tuổi Trái đất. Phần 5 bàn luận khảo cổ học và nguồn gốc loài người.

Kỹ sư Nguyễn Ngọc Lan
timhieuchanly@yahoo.com

Kỹ sư Nguyễn Ngọc Lan

http://www.ykien.net