Lời nói đầu.
Trăm nghe không bằng mắt thấy. Trong sách giáo khoa, trên tường của lớp học có đầy rẫy những bức họa sinh động mô tả sự chuyển hóa từ loài này qua loài kia. Nhà nước bỏ ra cả triệu Đô để xây dựng những viện bảo tàng hóa thạch. Vài bộ xương “người vượn” được đi máy bay hạng cao cấp hết nước này qua nước khác để triển lãm trong hội chợ ... Người bình thường không biết đến hay quan tâm về thuyết nhiệt động lực học, xác xuất toán học, giải phẫu sinh lý, di truyền học hay định tuổi qua phóng xạ các bon 14, Ác-gon/ Kali... Vài bức tranh và mô hình xương xẩu cũng đủ sức thuyết phục họ về nguồn gốc sinh vật, con người. Tiếp theo xin quý vị theo giõi cuộc bàn luận giữa hai hành khách bất đắc dĩ phải ngồi cạnh nhau.
Thuyết Tiến Hóa
PHẦN 5
A. Về bằng chứng của khảo cổ học.
Bà Giáo sư: Nếu ông đi thăm các viện bảo tàng, ông sẽ thấy nhiều hóa thạch của những con vật sống thời tiền sử, nay đã bị diệt vong. Khoa học dùng hóa thạch để định tuổi tầng đất cũng nhu chứng minh cho sự tiến hóa từ loài này sang loài kia. Ví dụ như hóa thạch của con chim nguyên thủy Archaeopteryx, hay những con ngựa cổ đại v.v...
Ông Mục sư: Các hóa thạch là những vũ khí hùng mạnh trong tay các nhà tiến hóa học. Khi đi xem viện bảo tàng khảo cổ học chúng ta thấy đầy những xương thú và mô hình khủng long rất đáng khâm phục. Sau khi xem các bằng chứng "có vẻ hiển nhiên ấy", người ta nghĩ rằng thuyết tiến hóa đang nắm phần thắng trong tay.
Theo thuyết Đác-uyn, tất cả mọi sinh vật đều được tiến hóa từ các loài thấp hơn. Ông ta đinh ninh rằng sớm muộn gì các nhà khảo cổ học cũng sẽ tìm ra vô số các hóa thạch trung gian giữa loài này loài kia. Ông còn tuyên bố chắc chắn: " Học thuyết của tôi sẽ bị sụp đổ nếu người ta có thể tìm thấy một loài vật cấp cao nào đang tồn tại ngày nay mà không được tiến hóa từ các dạng trước nó qua nhiều sự biến đổi dần dần.". Tuy nhiên sau gần hai thế kỷ tìm tòi, chẳng ai tìm ra được gì để chứng minh sự tồn tại của các loài vật trung gian. Tất cả các hóa thạch đều thể hiện sự hoàn hảo đặc trưng cho cuộc sống của từng loài. Các nhà khoa học ngày nay chẳng ai muốn nhắc đến sự ngộ nhận của Đác-uyn nữa.
Dựa theo vị trí các hóa thạch, các nhà tiến hóa học xây dựng một "cột biểu đồ địa chất" để chia các lớp đất ra nhiều thế hệ, giai đoạn tương ứng với thời gian. Ví dụ như thời Trước Cam-bri (thời các tảo thanh, các vi khuẩn), thời Cam-bri (động vật không xương sống) ... thời Giu-ra-sic (khủng long) v.v...
Khi đào sâu xuống, người ta thấy lớp dưới cùng là vỏ trái đất, hoàn toàn không có hoá thạch. Trên đó là lớp đất "trước thời Cam-bri", người ta tìm thấy một số hóa thạch của các sinh vật sơ khởi, tế bào đơn sống cách đây 3.5 tỷ năm theo các nhà tiến hóa học. Giữa hai giai đoạn 3.5 tỷ năm và 600 triệu năm có một khoảng trống khổng lồ về thời gian, nhưng người ta không thể tìm thấy hóa thạch trung gian giữa các sinh vật của hai thời đại. Tiếp theo là lớp đất thời Cam-bri, người ta tìm thấy vô số hóa thạch của động vật không xương sống như sao biển, sứa, bạch tuộc, san hô, bọ ba thùy, giun v.v... sống cách đây 600 triệu năm. Dường như các con vật thời Cam-ri tự nhiên xuất hiện một cách đột ngột và xuất hiện trong trạng thái trưởng thành hoàn hảo rồi. Tất cả các hóa thạch thời Cam-bri đều có cơ cấu phát triển cao và phức tạp như những con vật tương tự ngày nay. Lấy ví dụ mắt của con bọ ba thùy có hai thấu kính (so với mắt người có một thấu kính), nhờ vậy nó có thể nhìn dưới nước và trong không khí với hình ảnh rõ ràng được. Chưa ai có thể tìm thấy dạng chuyển tiếp trước nó.
Một thực tế không ai có thể chối cãi được là các hóa thạch tìm được đều chỉ ra mức độ trưởng thành toàn diện của từng con vật, chứ không có con vật nào đang trên con đường tiến hóa. Mặt khác, người ta không thể tìm ra các loài trung gian giữa loài này và loài kia để chứng minh cho sự tiến hóa. Nan đề đó được gọi là "missing links" hay những mắt xích bị mất. Người ta không thể tìm thấy các hóa thạch trung gian giưã động vật không xương sống và cá, giữa cá và bò sát, giữa bò sát và chim, thú, giữa thú sống trên đất liền và thú sống dưới nước. Với sự phong phú của thế giới sinh vật và số lượng hóa thạch đã được tìm thấy, đáng lẽ các dạng chuyển tiếp có thể được phát giác cỡ hàng trăm ngàn, triệu mẫu vật một cách dễ dàng. Nhưng thực tế không như vậy. Người ta không tìm thấy một sinh vật vừa có chân đằng trước vừa có vây đằng sau, hoặc trên một cái vây có mấy ngón chân để nói rằng nó đang trên đường tiến hóa từ loài cá sang loài ếch nhái.
Các nhà tiến hóa cho rằng hóa thạch của con Archaeopteryx là mắt xích liên hệ giữa bò sát và chim. Giữa loài bò sát và con chim tiền sử này có một thế giới cách biệt. Trước đây có những con bò sát biết bay, nhưng cánh của nó là màng da nối liền các chân với nhau. Còn con vật này có lông chim, có cánh và bay lượn như chim thật. Vì nó có móng trên cánh mà các nhà tiến hóa cho rằng nó mang tính chất của loài bò sát. Ngày nay người ta biết đến hai loài hiện đại thực sự là chim 100% nhưng có móng trên đầu cánh (Chim Hoatzin ở Nam Mỹ và chim Touraco ở Châu Phi). Ngay con chim đà điểu cũng có móng nhọn ở đầu cánh nhưng không ai gọi nó là dạng trung gian giữa bò sát và chim. Điều hơi khác thường về con chim tiền sử này là nó có răng trong khi chim hiện đại không có răng. Tuy nhiên, người ta không thể tìm thấy một bò sát trung gian đang bị mất dần răng trong quá trình tiến hóa hoặc tìm thấy một hoá thạch của một loài nửa có lông nửa có vảy. Có một cách giải thích dễ dàng chấp nhận rằng trước đây tồn tại cả loài chim có răng và loài chim không răng cũng như có loài cá, ếch nhái và bò sát có răng và không răng vậy. Hầu hết các loài cá và rắn đẻ trứng nhưng một số trường hợp đẻ con - chẳng ai dám nói chúng là loại nửa cá nửa thú hay nửa rắn nửa thú. Tất cả các loài thú đều đẻ con nhưng con thú mỏ vịt lại đẻ trứng. Vì nó có lông thú và cho con bú nên chẳng ai xếp nó vào loài chim hay bò sát cả. Cũng vậy con chim tiền sử là một con chim thực sự như bất cứ loài chim khác nhưng hơi dị dạng vì có răng mà thôi.
Bà Giaó sư: Trong thiên nhiên có một quy luật là cá nhân nào mạnh, nó sẽ tồn tại. Ví dụ trong các con hươu tiền sử ở châu Phi, có con vì đột biến mà có cổ hơi cao hơn đồng loại. Nhờ vậy nó có thể hái nhiều lá hơn ở tầm cao để ăn và sẽ sống sót qua mùa hạn hán. Dần dần con cháu của nó trở nên loài hươu cao cổ. Cũng vậy, trong loài ngựa tiền sử có con sinh ra thiếu một ngón chân. Từ đó xuất hiện loài ngựa bốn ngón chân. Rồi trong loài ngựa có bốn ngón chân có con sinh ra chỉ có ba ngón chân. Hàng triệu năm trôi qua, một sự đột biến di truyền nữa lại khiến một con ngựa sinh ra chỉ có hai ngón chân. Càng ít ngón chân hơn thì con ngựa càng chạy nhanh hơn và càng có khả năng sống sót trong khi đồng loại nó bị thú dữ ăn thịt. Dần dần, hàng trăm triệu năm trôi qua con ngựa tiền sử có năm ngón chân trở nên con ngựa hiện đại có một ngón chân.
Ông Mục sư: Nhưng các nhà khảo cổ chưa bao giờ tìm được hóa thạch nào đáng gọi là tiền thân con hươu cao cổ. Nếu chỉ có con hươu cao cổ cổ cao mới có đủ ăn và tồn tại thì các con của nó trong tuổi thiếu nhi và thiếu niên, cổ chưa đủ cao thì sao ? Còn các con hươu nai khác loài, ngựa vằn, trâu, bò sống cùng thời đó, chẳng lẽ chúng bị chết hết vì thiếu ăn ?
Còn về sự tiến hóa của loài ngựa. Các nhà tiến hóa học đem ra 4 hoá thạch của bốn con vật: Con thứ nhất có năm ngón chân, con thứ hai có 4 ngón chân, con thứ ba có 3 ngón chân, con thứ tư có 2 ngón chân, Và con ngựa hiện đại có một ngón chân. Như vậy chúng ta đã có bằng chứng về sự biến đổi dần dần từ con này sang con kia. Không ai có thể chứng minh được con có một ngón chân chạy nhanh hơn con có nhiều móng chân. Thêm vào đó, điều mà họ không muốn nhắc đến là sự bất thường trong khi hệ thống hóa các bộ xương sườn. Con thứ nhất có 18 đôi xương sườn, con thứ hai có 15 đôi, con thứ ba có 19 đôi và con thứ tư có 18 đôi như con đầu tiên. Nếu nghiên cứu sự biến đổi giữa về tầm vóc và các hàm răng người ta cũng thấy sự bất thường không thể giải thích được. Thực ra con đầu tiên thuộc họ Hyax (một loài chồn) nhiều hơn là họ ngựa.
Bên cạnh việc không thể tìm thấy các dạng trung gian trong số các hóa thạch đã được đào lên, các nhà tiến hóa học cũng không thể giải thích được hiện tượng các "hóa thạch sống". Hóa thạch sống là những con vật còn sống ngày nay, nhưng dấu vết của nó xuất hiện một cách liên tục hay gián đoạn trong tất cả các tầng đất . Có ba loại "hóa thạch sống":
Loại thứ nhất là những sinh vật không hề biến đổi trong quá trình lịch sử, ví dụ như bọt biển, bò cạp, cá mập, cá đuối, rùa v.v...Vì sao các loài khác "tiến hóa" qua rất nhiều dạng, đạt đến mức siêu đẳng như con người, còn nhóm này lại không ?
Loại "hóa thạch sống" thứ hai là những sinh vật có mặt trong thời tiền sử, nhưng vắng bóng một thời gian dài trong lớp đất khảo cổ thuộc các giai đoạn trung gian, nay lại vẫn còn sống, không hề thay đổi một chi tiết sinh lý nào cả. Ví dụ như loài Coelocanthes, Depidocaris, Huchisoniela, v.v... ( Xin lỗi bạn đọc vì không có tên thích ứng trong tiếng Việt, nên phải dùng tên khoa học, đây là một số sinh vật thân mềm và có vỏ). Phải chăng chúng đã bị diệt chủng hoàn toàn trong "mấy trăm triệu "năm, rồi trong một hoàn cảnh thuận lợi nào đó có loài nào đơn giản hơn "tiến hóa lên", hay có loài nào phức tạp hơn "thoái hoá trở lại" để chúng ta thấy những sinh vật ấy ngày hôm nay ?
Loại "hóa thạch sống" thứ ba là những con vật được liệt kê là sinh vật trung gian. Theo lý thuyết chúng đã bị diệt chủng lâu rồi sau khi tiến hóa thành loài mới. Tuy nhiên các loài đó lại mới được phát hiện ra, đang còn sống trong thời đại chúng ta. Chúng có cùng cơ chế và chức năng giống hệt như các hóa thạch của nó trước đây, hoàn toàn đầy đủ các chi thể, trưởng thành, đủ thích nghi với cách sống riêng của nó. Một điều chắc chắn là chúng chẳng phải "một mắt xích bị mất" giữa hai loài như người ta lầm tưởng. Ví dụ như loài Neopilina Galathae, một sinh vật thân mềm tìm thấy ở độ sâu 3500 m ở vịnh Mễ Tây Cơ mà các nhà tiến hóa trước đây cho rằng nó là tổ tiên của loài mực và bạch tuộc, đã bị diệt chủng cách đây 280 triệu năm.
Sự có mặt của các "hóa thạch sống" như một chiếc xương mắc trong cổ họng của thuyết tiến hóa, nuốt không được mà nhổ không ra. Ước gì những con vật này chết quách đi cho yên chuyện.
B. Về Nguồn gốc loài người
Bà Giáo sư: Một trong những nơi thú vị nhất của vườn Bách thú là chuồng vượn. Chúng thật giống người cả về giải phẫu sinh lý lẫn phong cách sinh hoạt cộng đồng. Chúng còn có khả năng bắt chước và dùng que để khều thức ăn nữa. Khoa học đã chứng minh được tổ tiên của loài người là loài vượn. Ông không biết đến người vượn Pít -đao, người vượn Nê-bra-sca, người vượn Gia Va, người vượn Bắc Kinh, người vượn Đông Phi, người vượn Nê-an-đơ-than ... hay sao ?
Ông Mục sư: Tôi nhớ chứ. Đối với một con người bình thường, những bằng chứng mà "khoa học" đưa ra về người vượn cũng đủ chứng minh về thuyết tiến hóa. Trong các sách giáo khoa hay các sơ đồ treo trên tường ở trường học, chúng ta đều thấy hình những con vượn giống người sắp xếp từ nhỏ đến lớn, từ lọm khọm đi bằng bốn chân tiến đến đứng thẳng người bằng hai chân, khuôn mặt con trước thì giống thú, con sau thì giống người. Con đầu tiên thì cầm hòn đá, mấy con ở giữa thì cầm chiếc gậy, ngọn đuốc và con cuối cùng mặc áo com lê tay xách máy vi tính.
Phải chăng đó là bằng chứng khoa học hay là sự lừa dối của các nhà khảo cổ cộng với tài năng của các họa sĩ ? Khi một thanh niên quá yêu một cô gái, tất cả cái gì anh ta thấy đều gợi ý đến hình ảnh của nàng. Một khoa học gia vì quá tin vào thuyết tiến hóa nên khi tìm thấy một chiếc răng, một mảnh sọ, một chiếc xương hàm, tự nhiên ông sẽ nghĩ ngay đến một loại sinh vật trung gian giữa vượn và người. Thực ra các mẫu vật đó thuộc hài cốt của một con vượn thuần túy, hoặc thuộc về người hiện đại 100 %, chứ không phải thuộc về cái gì nửa vượn nửa người. Xin bà Giáo sư cùng tôi kiểm nghiệm những ví dụ sau đây:
Năm 1912, Cha-li Đo-sơn (Charles Dawson) phát hiện ra một chiếc sọ dừa và và một hàm răng ở Pít-đao (Piltdown), nước Anh. Chiếc sọ thật giống sọ người, hàm thì giống hàm vượn và những chiếc răng lại giống răng người. Các nhà "khoa học"Anh quốc tuyên bố rằng đây là loài "Eoathropus Dawsoni", chúng ta gọi là người vượn Pít-đao, tổ tiên loài người sống cách đây nửa triệu năm. 500 cuốn sách được viết về vị anh hùng này. Năm 1950 khoa học đã phát hiện ra đây là một sự lừa dối: Có người đã lấy một sọ người và một hàm răng vượn, lấy dũa dũa những chiếc răng cho giống răng người. Sau đó hắn nhúng tất cả vào trong hóa chất để chúng có vẻ cũ kỹ rồi chôn xuống điạ điểm khai quật. Suốt 50 năm trời các nhà tiến hóa học bị lừa vì họ muốn thấy điều mình đang tin và chằng muốn tin đều mình đang thấy.
Năm 1922 Tiến sĩ Ôs-bon (H. Osborn) đưa ra một chiếc răng phát hiện được ở Nê-bra-sca (Nebrasca) và quả quyết rằng đây thuộc về người vượn, tên khoa học là Hesperothecus, hay người vượn Nê-bra-sca. Năm 1922 tờ báo Illustrated London đăng bức chân dung của anh chàng người vượn này cùng với công cụ lao động thô sơ. Tất cả đều do trí tưởng tượng dựa trên sự phát hiện một chiếc răng. Vài năm sau, ở địa điểm khai quật kia người ta đã tìm thấy thêm vài chiếc xương nữa và biết rằng chiếc răng của người vượn Nê-bra-sca chính là chiếc răng heo 100%.
Khoảng vào năm 1930, một chiếc hàm hóa thạch và vài chiếc răng được khám phá ở Ấn độ, Người ta đặt tên cho nó là người vượn Ramapithecus. Sau này người ta chứng minh nó thuộc về thi hài của một loài vượn màu da cam hiện đại (Orangutan). Gần đây người ta tìm thấy ở làng Orce, Tây Ban Nha một chiếc sọ, họ cho đây là sọ của người vượn cổ xưa nhất ở Châu Âu và đặt tên nó là người vượn Oóc. Cuối cùng những bác học Pháp đã khẳng định đây là sọ của một con lừa con chưa đầy 1 tuổi.
Trước đó người ta tìm được vài chiếc sọ, hàm và răng ở gần Bắc Kinh. Họ dựng lên mô hình người vượn Bắc Kinh. Trong thế chiến lần thứ hai những bảo vật đó đã bị biến mất. Nhiều nhà nhân chủng học cho rằng đây là những con vật thuộc loài vượn bị săn và ăn thịt bởi con người hiện đại.
Tiến sĩ Đu-bôi (Đubois) đưa ra một mô hình được dựng nên bởi các hóa thạch tìm thấy ở Gia-va. Các nhà tiến hóa học gọi nó là người vượn Gia-va. Các thành phần của hóa thạch là một chiếc xương ống chân, một chiếc sọ và ba chiếc răng được phát giác ở những địa điểm cách nhau 15 m trong vòng một năm. Ông Đu-bôi giấu diếm một sự thật là ông cũng tìm thấy sọ của người hiện đại bên cạnh hài cốt người vượn Gia-va. Cuối đời ông đã thay đổi ý kiến và công nhận đây là hài cốt của một con vượn lớn chứ không phải là người vượn đang tiến hóa đâu.
Năm 1924 và năm 1959, hai tiến sĩ Đát và Lích-ki (R. Dart và Leaky) tìm thấy những hóa thạch của một loài rất giống khỉ, nhưng răng giống ngườøi. Họ đặt tên cho nó là Australopithecus (người vượn phía nam) và Zinjanthropus (người vượn Đông Phi). Nhiều nhà tiến hóa học không đồng ý giả thiết ấy, nhưng những con vật này vẫn được đưa vào trường học và sách giáo khoa. Ít người biết rằng mẫu người vượn này được dựng nên từ vài cái sọ, vài chục xương hàm và hàng trăm chiếc răng tìm được ở các hang động châu Phi. Ai dám chắc rằng chúng xuất phát từ một nhân vật ?
Năm 1973 tiến sĩ Giô-han-sơn (D. Johanson) tìm thấy những hóa thạch ở Ê-thi-ô-pi. Ông ta đặt tên cho sinh vật này Australopithecus Afarensis. Ông còn đưa ra một mẫu vật "phụ nữ" được bảo toàn 40% và đặt tên cho cô ta là Lu-si. Lu-si có khuôn mặt khỉ, hàm răng khỉ và óc khỉ, nhưng lại đi thẳng bằng hai chân. Như vậy Lu-si chính là một loài đang trên con đường tiến hóa thành người. Ít người biết đến Lu-si được dựng lên từ nhiều khúc xương khác nhau. Để chứng minh là Lu-si đi thẳng người, họ lắp cho cô ta một mảnh xương đầu gối tìm thấy được ở một địa điểm cách xa đó 3 km và thấp hơn 60 m. Phải chăng Lu-si bị sư tử ăn thịt ở địa điểm thứ nhất rồi các con chó hoang tha phần xác còn lại của cô đến địa điểm thứ hai ?
Nhiều khi người ta tìm thấy xương người hiện đại ở tầng đất thấp hơn, cổ xưa hơn tầng đất chứa xương "người vượn". Có trường hợp người ta tìm thấy xương người vượn cùng một chỗ với xương người thật. Điều đó chứng tỏ người thật còn sống trước người vượn hay cùng sống một thời. Tất nhiên ít nhà khoa học thực thà biết đến chuyện này và các nhà khảo cổ chẳng dại gì mà nói ra.
Tất cả khối não cuả người vượn khoảng 400 đến 600 cm3 cùng lắm là 1000 cm3 trừ người vượn Nê-an-đê-than và Crô-mác-nôn có bộ não lớn như bộ não người 1300 đến 1600 cm3.
Năm 1860 một vài chi thể hóa thạch được tìm thấy ở thung lũng Nê-an-đơ-than, nước Đức. Dần dần người ta cũng tìm thấy những hóa thạch tương tự ở châu Âu, châu Phi và châu Á, đặt biệt hoá thạch tìm thấy ở Pháp được bảo toàn khá trọn vẹn. Các nhà tiến hóa học gọi nhóm này là người vượn Nê-an-đơ-than. Loại người vượn này có trình độ văn hóa cao, biết chế tạo công cụ và vũ khí, biết chôn người chết như chúng ta. Họ lại có tôn giáo nữa. Bộ óc họ cũng lớn như bộ óc chúng ta. Hóa thạch ở Pháp có vẻ hơi gù, chứng tỏ anh ta đi lom khom như vượn. Vậy các nhà tiến hóa tuyên bố rằng đây là vị tiền bối gần nhất của loài người, mắt xích liên kết giữa loài người và loài vượn. Tuy nhiên có một khả năng giải thích khác mà một số nhà khoa học, đứng đầu là tiến sĩ Vơ-châu (D. Virchow), cho rằng nhóm người này là những người hiện đại như chúng ta sống cách đây vài ngàn năm trong những điều kiện khắc khổ. Xác người tìm thấy ở Pháp đi lòng khòng bởi anh ta bị bệnh thấp khớp, cũng như tất cả những cá nhân người Nê-an-đơ-than khác đều mắc bệnh còi xương vì thiếu vi-ta-min D. Kiểm nghiệm xương và răng của các mẫu vật đã khẳng định ý kiến của tiến sĩ Vơ-châu.
Bà thấy không ? Các nhà khoa học nói chung đều là người đáng kính trọng, đáng khâm phục. Tuy nhiên, là con người họ không thể tránh khỏi bị nhầm lẫn, cho dù dày công và thực lòng trong quá trình tìm tòi nghiên cứu, mong tìm được một câu trả lời thỏa đáng. Trong nhiều trường hợp như đã kể trên, vì quá tin vào thuyết tiến hóa mà một số vị bị lưà dối hoặc thậm chí trở nên những người lừa dối trắng trợn. Họ không còn là các khoa học gia nữa mà là "khoa học giả". Sau khi đem hết giả thiết này đến giả thiết kia dưới danh nghĩa "khoa học", họ vẫn không thể giải thích được sự hình thành của nguyên tử, điện tử và hạt nhân, sự biến đổi từ chất vô sinh thành tế bào sống, từ vật chất bất động sang cơ thể năng động, từ thế giới vô tri sang thế giới hữu tri, có cảm giác, phản xạ, bản năng sinh lý phức tạp. Cuối cùng, giữa thế giới động vật cao cấp nhất và con người có một khoảng cách xa vời mà thuyết tiến hóa không có cách nào thiết lập được một nhịp cầu móc nối: như sức sáng tạo, khả năng làm chủ thiên nhiên, về linh hồn, lương tâm, lý trí, ngôn ngữ, và tín ngưỡng v.v...
Nhiều nhà khoa học biết sự sai trật của thuyết Tiến hóa, song vì áp lực của viện nghiên cứu, của đồng nghiệp nên đành phải đi ngược với lương tâm, thực hành sách lược ”không nghe, không thấy, không phát biểu” cho qua chuyện.
Trong khi thuyết tiến hóa thất bại trong việc giải thích nguồn gốc của sự sống, thuyết tạo hóa đem lại cho những người yêu mến sự thật và yêu thích khoa học một câu trả lời chắc chắc, hợp lý và thoả lòng
Còn Tiếp: Thay thế thuyết Tiến Hóa bằng gì ?
Kỹ sư Nguyễn Ngọc Lan.
Liên lạc với tác giả: Timhieuchanly@yahoo.com
Để đọc lại các phần trước, xin quý vị vô http://ykien.net/nngoclan00.html
Hoặc muốn đọc trọn cuốn sách tiến Hóa hay Tạo Hóa, xin tới www.geocities.com/timhieuchanly
http://www.ykien.net
|