Thuyết Tiến Hóa, phần 8
Về Đấng Tạo hóa
Một căn nhà sang trọng nhưng không có người ở, thật lạnh lẽo làm sao. Một bộ áo lễ lịch sự mà không có ai mặc thật cô quạnh đến mức độ nào. Cũng vậy, nếu như Trái Đất dù đẹp đẽ như viên ngọc xanh lóng lánh trong màn đêm của vũ trụ, nhưng không có sự sống thật vô duyên hết sức. Chúng ta hãy tưởng tượng Trái Đất không có cây cối xanh tươi, hoa thơm quả ngọt, cá bơi lội tung tăng dưới nước, ong bướm bay lượn giữa các bông hồng, chim hót véo von trên cành đào, ếch nhái nhảy chồm chồm giữa các bông sen, voi rừng đi rầm rập những cây cổ thụ... Bà hãy tưởng tượng Trái Đất không có loài người với khả năng cải tạo thiên nhiên, xây dựng thành phố, biến năng lượng thác nước làm điện, biến hạt cát thành mạch vi tính sử dụng trong máy thu hình, làm tầu đi thám hiểm đáy biển và vũ trụ...
Sự sống phong phú trên Trái Đất phản chiếu tất cả các khía cạnh của Nguồn Sống. Trước hết Ngài không phải là một pho tượng không hồn, nhưng là một Đấng Sống. Không những Ngài đầy dẫy Sự Sống nhưng Sự Sống của Ngài sinh động, có trật tự, có tri thức, lương tâm và tình yêu. Chúng ta có thể thấy dễ dàng khi quan sát thế giới sinh vật mà Ngài tạo dựng. Từ những con vi khuẩn mắt thường không thể thấy cho đến nhưng con cá voi nặng hàng trăm tấn, từ con chim ruồi chỉ nặng hai gram có khả năng bay giật lùi đến con đà điểu xồ xề, chẳng bay được nhưng chạy nhanh hơn ngựa, tất cả đều hòa giọng ca ngợi Đấng Sáng Tạo và Nuôi Dưỡng muôn loài trên Trái Đất.
Trước hết Đức Chúa Trời sáng tạo ra thực vật, từ rong rêu ngoài biển, cỏ trên bình nguyên đến những cây cổ thụ trong rừng già và thông lao trên ngọn núi cao. Ngài tạo dựng thế giới thực vật với mục đích gì? Để trang điểm cho Trái Đất, đó là lý do về mặt mỹ thuật, nhưng quan trọng hơn, để cung cấp Ô xy và chất dinh dưỡng cho động vật. Cây cỏ lấy nước và khoáng chất từ lòng đất qua hệ thống rễ, vận chuyển qua vỏ cây đến lá. Trong lá có các tế bào quang hợp với khả năng hấp thụ năng lượng Mặt Trời, biến nước và khoáng chất thành Prô-tê-in để nuôi cơ thể. Trong sự quang hợp, lá cây hấp thụ khí Các bon níc và thải ra khí Ô xy. Đây là một quá trình vô cùng phức tạp, tinh xảo và kỳ diệu, không thể tự nhiên mà có, nhưng đã được Đức Chúa Trời xếp đặt trong cây cỏ để duy trì sự sống trên Trái Đất. Động vật ăn cỏ, lấy chất dinh dưỡng từ thực vật để nuôi mình. Rồi động vật ăn thịt lấy Prô-tê-in từ động vật ăn cỏ. Cả hai loại đều phải hít vào khí Ô xy và thải ra Các bon níc. Cuối cùng, phân và xác chết của chúng lại được dùng để nuôi cây cỏ.
Nếu như tế bào quang hợp là sự phát minh kỳ diệu của Đấng Tạo Hóa trong thế giới thực vật, thì tế bào máu lại là một tác phẩm tuyệt vời trong thế giới động vật. Nó có khả năng đem khí Ô xy nhận được từ phổi và chất dinh dưỡng nhận được ở gan đi nuôi các tế bào, rồi lấy thán khí và phế thải từ các tế bào đem ra ngoài cơ thể qua phổi và thận. Một số tế bào máu có nhiệm vụ vận tải hoóc - môn, điều hòa sinh lý, gìn giữ nhiệt độ, hàn gắn vết thương và tìm diệt vi trùng, vi khuẩn đột nhập vào cơ thể. Một con người vẫn còn có thể sống nếu bị liệt não, nhưng khi tim ngừng đập, máu ngừng chảy, cơ thể ấy ngừng sống. Nói qua về sự cầm máu, dù đây không phải chức năng chính của máu nhưng nó hoàn toàn không đơn giản chút nào. Sự cầm máu chỉ xảy ra ở chỗ có vết thương, nếu không hệ tuần hoàn sẽ bị tắc nghẽn. Sự cầm máu phải xảy ra hết sức nhanh chóng và lớp máu bị đông phải đủ cứng để khỏi bị áp xuất mạch máu làm bể ra tiếp. Đây là một loạt những phản ứng hóa học vô cùng tinh vi, vượt quá giới hạn của cuốn sách này. Nhưng ngay từ ban đầu con người và súc vật vẫn sử dụng cơ chế cầm máu một cách tự nhiên để tồn tại. Rồi lại có những loài đỉa, muỗi, dơi được trang bị các chất chống đông máu nữa. Chúng chẳng phải là "các nhà hóa học tài giỏi" với kiến thức được tích trữ từ tổ tiên và vũ khí được cải tiến không ngừng qua nhiều thế hệ (theo thuyết tiến hóa). Nói một cách đơn giản nhưng chính xác: Đức Chúa Trời tạo ra chúng như vậy.
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Kinh Thánh phán: "Sinh mạng của xác thịt ở trong huyết" (Lê vi ký 17:11) và nghiêm cấm việc ăn huyết trong vòng ngưòi theo đạo Chúa. Không có gì quý hơn máu, chính vậy mà Chúa Giê-su phải trả giá cho tội lỗi loài người bằng chính dòng huyết tinh khiết, đầy nhựa sống của Ngài.
Khoa học di truyền hiện đại cho biết tất cả các tế bào sống dù nguyên thủy đến đâu đều phải có các gen chứa đựng hệ thống thông tin di truyền DNA phức tạp để truyền lại các đặc tính mình cho các thế hệ về sau. Mỗi tế bào đơn giản nhất có ít nhất là 50 DNA, trung bình là 400 DNA, nhiều tế bào có đến 2000 DNA. Lượng thông tin di truyền của một tế bào nhiều đến mức nếu có thể chép ra sách, chúng ta cần có 1000 cuốn sách, mỗi cuốn dày 500 trang. Kỳ diệu thay, trong khi một người cần phải có hàng chục năm để đánh máy lượng thông tin kể trên, một tế bào chỉ cần vẻn vẹn 20 phút để sao lại chính mình trong quá trình sao tạo, tuyệt đối không có một sự nhầm lẫn nào cả. Thiên nhiên minh họa một các hùng hồn bàn tay và trí tuệ tuyệt vời của một Đấng Sáng Tạo vô hình, am hiểu về hóa chất, thông sáng về sinh lý, tường tận về di truyền.
Quay lại thế giới sinh vật, vì sao Chúa sáng tạo những bông hoa có mật trong cuống hoa? Chúa làm vậy để các con côn trùng đến ăn mật giúp bông hoa thụ phấn. Vậy vì sao Chúa còn làm các bông hoa thơm phức, xinh đẹp, muôn màu, muôn dạng khác nhau nữa? Nếu chỉ để cám dỗ côn trùng thì chỉ cần mùi thơm là đủ, chúng đâu có cảm giác thẩm mỹ như người. Thêm vào đó mùi thơm côn trùng thích có thể là mùi hôi thối đối với con người. Đức Chúa Trời không những chỉ cung cấp nhu cầu thể xác cho con vật sơ đẳng như côn trùng, nhưng còn quan tâm đến nhu cầu tình cảm của con người nữa. Xin thử tưởng tượng mình đi gặp người yêu với một nắm hoa tẻ nhạt, không màu sắc, không hương vị.
Đơn giản như côn trùng cũng là một tuyệt tác của Đấng Sáng Tạo. Côn trùng được định nghĩa là loài vật không xương sống, có sáu chân, hầu hết có vỏ và có cánh. Khi giở từ điển minh họa sinh vật học ra chúng ta thấy nào là kiến đỏ, kiến đen, mối trắng, bọ rầy, bọ cam, cào cào, châu chấu, bọ ngựa, nhện, ong mật, ong tò vò và bướm đủ màu sắc v.v... Xem ngợp cả mắt. Riêng họ hàng con tô tô cũng đã đến hàng trăm loại rồi, nhiều lúc chúng giống hệt nhau về hình dạng nhưng chỉ khác nhau về số đốm trên cánh mà thôi. Nhiều côn trùng có khả năng tự vệ bằng vũ khí lợi hại, nhiều con lại có khả năng ngụy trang khiến mình giống như chiếc lá khô hay cành cây. Thật muôn màu muôn vẻ. Thật sinh động. Thật kỳ diệu.
Chúng ta hãy quan sát một chú sâu róm sấu xí. Nó sinh ra từ một quả trứng tầm thường. Bởi bộ lông lởm chởm mà không mấy loài chim muốn động đến nó. Bây giờ cu cậu đã ăn no, cuốn mình nằm ngủ trong kén làm từ những sợi dây cước hết sức bền mà Đức Chúa Trời đã dự bị sẵn. Trong cái kén đó, chú sâu róm biến mình thành một chất lỏng như lòng trắng trứng gà, rồi từ đó phát triển các chi thể của một con bướm mà trước đây nó không có: Chân, cánh, vòi hút mật, ăng ten v.v... và cuối cùng cơ quan sinh dục. Cả một quá trình phức tạp như vậy xảy ra trong vòng một vài ngày. Cuối cùng nó mở kén - Cái kén vô cùng bền chặt mà tay người phải chịu, thế mà con bướm yếu đuối kia biết dùng chất hóa học trong miệng làm mềm cái kén mà chui ra. Nó không giống con sâu róm trước kia một chút nào hết, không những nay có cánh, biết bay, lại còn xinh đẹp nữa. Không những nó làm bạn với các con bướm khác để duy trì nòi giống, nhưng thụ phấn cho các bông hoa và đem lại cảm hứng cho các nhà thơ. Sau một thời gian nó đẻ trứng và mọi sự lại bắt đầu từ con sâu róm. Phải chăng con sâu róm tiến hóa thành con bướm qua hàng tỷ năm, hay Thượng đế xếp đặt một chu kỳ sinh sống hết sức kỳ diệu cho nó - một côn trùng tầm thường?
Ở Việt nam cũng như nhiều nơi trên thế giới có con bọ gọi là con "Đánh Rắm" (the Bombardier beetle). Nếu có ai tò mò động vô sẽ bị nó xịt ra một luồng khí màu vàng vào ngón tay, mạnh đến nỗi da bị cháy xám đi và trở nên ngứa ngáy, nhức nhối khó chịu. Luồng khí đó phụt ra ngoài với một tiếng kêu lớn, chính vì vậy mà người ta đặt tên là con Đánh Rắm. Các nhà khoa học nghiên cứu kỹ con Đành Rắm qua giải phẫu mới biết rằng trong cơ thể nó có hai chất hóa học (Hidrogen peroxide và Hidroquinone), chúng ta tạm gọi là chất A và chất B. Bình thường hai chất này được chứa ở trong hai buồng chứa riêng biệt. Khi con Đánh Rắm gặp kẻ thù, hai chất này được bơm vô buồng thứ ba là lò phản ứng hóa học, ở đó có thêm hai chất kích thích gọi là Enzim. Dưới tác dụng của Enzim chất A bị phân chia ra nước và Ô xy. Ô- xy tác dụng lên Chất B tạo ra một hợp chất hết sức độc hại cho sinh vật. Quá trình này xảy ra trong tích tắc, hỗn hợp được đốt nóng lên đến 100 độ C và sinh ra một áp suất rất cao. Khi mọi sự đã sẵn sàng, con Đánh Rắm "bóp cò", mở van của lò phản ứng hóa học, cho phép hơi phụt ra ngoài với một tiếng nổ lớn, qua một "khẩu đại bác" đặt sau đít nó. Khẩu đại bác này có thể quay tròn bốn hướng và có thể bắn ra 15 - 20 lần trong vài phút. Trong thiên nhiên hầu như chẳng có ai muốn làm kẻ thù của con Đánh Rắm.
Con Đánh Rắm là con bọ lớn bằng đầu ngón tay út, thế mà trong nó có một cơ chế tự vệ cùng tinh xảo, phức tạp. Làm sao mà nó biết sử dụng các hóa chất một cách có chọn lọc và biết điều khiển phản ứng hóa học tùy ý muốn? Làm sao nó có được một hệ thống các buồng chứa không bị hóa chất ăn mòn và lò phản ứng hóa học đủ chịu đựng được nhiệt độ và áp suất cao? Làm sao nó có được một khẩu đạc bác lợi hại và một hệ thống thông tin chính xác để phân biệt đâu là bạn đâu là thù?
Nếu con Đánh Rắm được tiến hóa từ con “Không Đánh Rắm” thì thành phần nào được thêm vô trong cơ thể của cha ông nó trước tiên? Bình chứa hóa chất hay hóa chất? Các chất hóa học A và B có trước hay các chất kích thích Enzim? Vì sao vậy? Vả lại khi chưa có lò phản ứng thì nó đem trong mình các chất hóa học để làm gì hàng triệu năm trước khi được tiến hóa? Mà khi chưa có chất hóa học thì tổ tiên của nó đựng gì trong hai bình chứa? Nếu nó có bình chứa, các hóa chất, enzim và lò phản ứng rồi thì biết bao thế hệ con Đánh Rắm bị nổ tung trước khi nó biết cách làm chủ được phản ứng hóa học? Giả sử nó đã học được cách làm chủ phản ứng hóa học rồi thì đến bao giờ nó mới phát minh và hoàn chỉnh khẩu đại bác? Nếu đã có khẩu đại bác rồi mà hệ thống thần kinh chưa phát triển thì biết bao họ hàng, bạn bè của nó bị bắn nhầm v.v...
Nếu theo thuyết tiến hóa thì chúng ta sẽ bị tắc tị ở bất cứ thời điểm nào nhưng thuyết tạo hóa có thể giải thích được mọi sự, dựa trên quyền năng và trí tuệ vô biên của Đấng Sáng Tạo. Ngay từ đầu Ngài tạo dựng thế giới sinh vật muôn màu muôn vẻ. Mỗi một loài, dù sơ đẳng đến đâu cũng được Ngài thiết kế, trang bị đầy đủ và hoàn hảo các chi thể, cơ chế thích hợp với cách sống của chúng. Tầm thường như côn trùng mà Đức Chúa Trời sáng tạo chúng một cách tinh xảo và yêu thương như vậy huống chi là con người là loài được dựng lên theo hình ảnh Ngài.
Tình Yêu của Đức Chúa Trời thể hiện qua sự săn sóc của Ngài đối với tạo vật. Chúa Giê-su nói: Hãy nhìn các con chim bay lượn trong không trung, chúng chẳng gieo hạt, gặt hái, tích trữ lương thực vào kho, nhưng Cha Trên Trời cho chúng đủ ăn. Hãy nhìn hoa dại ngoài đồng, chúng chẳng trồng bông, kéo chỉ, nhưng Sa-lô-môn là vua giàu nhất trên thế gian cũng chẳng ăn mặc rực rỡ như chúng. Đức Chúa Trời chăm sóc loài chim rẻ mạt hay loài cỏ hoang sớm nở tối tàn, người ta đem vào lò để đốt như vậy, không lẽ Ngài thờ ơ đến nhu cầu của con người. (Sách Ma-thi-ơ chương 6 câu 25)
Chúng ta có thể hỏi: Đức Chúa Trời yêu thương vậy vì sao có người chết đói? Ít ai biết rằng, Liên Hiệp Quốc chỉ cần 40 tỷ đô la một năm để nuôi, chăm sóc sức khỏe và giáo dục 1.3 tỷ người nghèo khổ trên thế gian. Số tiền đó chỉ là một phần nhỏ (3%) trong thu nhập hàng năm của hai trăm nhà tỷ phú quốc tế. Giá thành của một chiếc máy bay ném bom chiến lược (B2) có thể nuôi được 10 triệu dân của một nước nghèo ở Á Châu trong vòng một năm. Đức Chúa Trời cung cấp đầy đủ nhu cầu cho con người, nhưng con người tội lỗi, tham lam ích kỷ bỏ đói lẫn nhau.
Vậy, Đức Chúa Trời yêu thương sao không trừng phạt kẻ ác? Sự yên lặng của Đức Chúa Trời không có nghĩa là Ngài bất lực hay không quan tâm, nhưng chứng tỏ Ngài giàu lòng tha thứ, kiên nhẫn chờ đợi kẻ mắc tội ăn năn và làm lại cuộc đời. Đức Chúa Trời ghét tội lỗi và thương xót tội nhân. Ngài lại là Đấng Công Bình, nên nếu Ngài trừng phạt kẻ giết người thì Ngài chẳng thể buông tha kẻ nói dối, trong số đó có bà và tôi.
Tình yêu trong vòng loài người là một khái niệm đẹp đẽ, nhưng chỉ giới hạn trong vòng gia đình thân nhân, bạn bè, hoặc những người đáng yêu. Nhưng ít ai yêu kẻ thù. Người ta chỉ mong muốn kẻ thù mình sớm bị tai ương. Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương con người đến mức không trừng phạt tội nhân, hoặc hành hạ kẻ ác, khiến họ phải làm công trả nợ một cách khốn khổ. Đức Chúa Trời cho họ một cơ hội làm lành với Ngài một cách hết sức dễ dàng: Tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu rỗi, chết thay cho tội lỗi của mình. Quá dễ dàng so với các hình thức tôn giáo khác mà con người đặt ra.
Kinh Thánh viết rằng Đức Chúa Trời là Tình Yêu. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu vô điệu kiện. Đức Chúa Trời yêu mến tạo vật, điều ấy chẳng có gì khó hiểu, nhưng Đức Chúa Trời yêu mến con người đến mức Chúa Giê-su phải hi sinh để cứu chuộc con người, ấy mới là điều làm chúng ta băn khoăn. Vì sao con chim họa mi đẹp đẽ, ngây thơ, hát hay như vậy mà Đức Chúa Trời không cho sống đời đời trong khi chúng ta là loài dơ dáy trước mặt Ngài lại được ân huệ ấy? Vì sao các thiên thần đầy trí khôn và sức mạnh như vậy, nhưng khi đã phạm tội là mất cơ hội ăn năn và vĩnh viễn trở nên ma quỷ, còn chúng ta lại được bản thân Chúa Tể của Vũ Trụ đích thân cứu chuộc. Tất cả đều chỉ ra một chân lý: Đức Chúa Trời yêu thương, mến trọng loài ngưòi hơn hết tất cả mọi tạo vật trên thế gian và trong không gian.
HỎI ĐÁP VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI
- Ban đầu ai tạo bầu trời, Dựng nên quả đất cùng loài người ta ?
- Đức Chúa Trời, Giê-hô-va. Ngài dùng quyền-phép tạo ra muôn loài.- Hỏi rằng: Đức Chúa là ai ?
Chính Ngôi Chủ-tể đất, trời, vật, dân.
Ba Ngôi hiệp một Chơn Thần.
Thông-minh quyền-phép muôn phần tôn-oai.-Thế nào mà đặng biết Ngài?
-Cúi xem lẽ đất, ngủa coi tượng trời.
-Hỏi cho rõ lẽ cạn lời,
Xưa nay ai thấy Chúa Trời chí-tôn?-Hình không mà tượng cũng không
Đấng thiêng-liêng dễ đâu trông thấy Ngài.
- Bởi đâu có Đức Chúa Trời?
-Tự-nhiên mà có, đời đời sống lâu.-Hỏi rằng: Đức Chúa ở đâu?
-Đấng vô-bất-tại chỗ nào lại không;
Việc gì Ngài chẳng suốt-thông,
Dưới cùng quả đất, trên không tột trời.Chơn-Thần một Chúa Ba Ngôi;
Cha, Con, Thần-Thánh đời đời anh-linh.
Không sau trước, đồng vĩnh-sinh.
Hỏi ra quyền-phép hiển-vinh cũng đồng.Danh truyền nam, bắc, tây, đông;
Kẻ xưng Thiên-Phụ, người tôn Chúa Trời.
Giê-hô-va, Chúa mọi người,
Tự-nhiên mà có đời đời sống daiChơn-Thần chỉ một mình Ngài.
Trừ ra ngoài Chúa không ai đáng thờ.
Bao nhiêu thần-tượng ngồi trơ,
Kẻ treo trong miếu, người thờ trên trang.Bởi tay người thợ sửa-sang,
Đều là thần giả dị đoan, chớ thờ.
(Trích thơ của mục sư Phan Đình Liệu)
Xem tiếp kỳ sau: Đỉnh cao của công trình tạo hóa
Xem lại các bài trước: xin vô trang mạng: http://ykien.net/nngoclan00.html
Hoặc muốn đọc trọn cuốn sách tiến Hóa hay Tạo Hóa, xin tới http://www.geocities.com/timhieuchanly
Địa chỉ liên lạc: timhieuchanly@yahoo.com
http://www.ykien.net
|