Thuyết Tiến Hóa, phần 9
Về Kinh Thánh,
Phải đây là lời Đức Chúa Trời.
Bà Giáo sư: Ông đã chứng minh sự sai lầm của thuyết tiến hóa, quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Phải chăng những lý luận ấy là quan điểm của con người hay sự dạy dỗ của Đấng Thánh? Nói có sách mách có chứng, nếu Đức Chúa Trời khôn ngoan, quyền phép như vậy, sao Ngài không cho chúng ta một văn tự về bản thân và công việc của Ngài?
Ông Mục sư: Bằng chứng về công cuộc sáng tạo có đầy rẫy trong thiên nhiên. Còn về văn tự, ấy là Kinh Thánh. Không những Kinh Thánh mô tả việc Đức Chúa Trời tạo dựng bầu trời, trăng, sao, Trái Đất và sinh vật thế nào, nhưng còn giải thích nguồn gốc và phương cách giải quyết nan đề số một của chúng ta là tội lỗi. Cuối cùng Kinh Thánh còn tiên tri sự chung kết của Vũ Trụ và số phận của loài Người. Tất cả thắc mắc của chúng ta đều có thể được trả lời nhờ nghiên cứu Kinh Thánh mà tín hữu tin chắc là Lời của Đức Chúa Trời.
Bà Giáo sư: Qua những lời giải thích của ông, tôi biết rằng việc Đức Chúa Trời sáng tạo ra muôn vật hoàn toàn có lý, nhưng tôi chẳng tin những điều chép trong Kinh Thánh đồng ý với khoa học hiện đại. Làm sao tôi có thể chấp nhận rằng một quyển sách được viết cách đây 3500 năm vẫn còn thích hợp với kiến thức và cách suy nghĩ của con người trong thế kỷ 21 này? Ông lấy gì để làm chứng cho Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời.
Ông Mục sư: Vâng. Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể khẳng định được điều này khi nghiên cứu về các tác giả của Kinh Thánh; Về sự tồn tại, sự phổ biến rộng rãi của Kinh thánh; Về các di tích, di vật lịch sử được Kinh thánh nói đến mà khảo cổ học đã xác định có thật. Chúng ta có thể kiểm nghiệm sự linh thiêng của Kinh Thánh qua nghiên cứu những lời tiên tri được nói trước hàng trăm, hàng nghìn năm và ứng nghiệm chính xác trong lịch sử một cách chi tiết. Nếu chúng ta có thể chứng minh rằng Kinh Thánh không những không phản khoa học nhưng còn đi trước khoa học hàng chục thế kỷ, những người yêu mến khoa học sẽ chẳng gặp khó khăn gì khi tin rằng đây quả thật là Lời của Đức Chúa Trời.
Một quyển sách có thể có một tác giả, nhưng nhiều người viết. Ví dụ như tiểu sử của một nhân vật được một nhóm nhà văn cộng tác, mỗi người viết một phần để thành một quyển sách dày. Cũng vậy Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời được 40 nhân vật sao chép lại trong một tuyển tập gồm có 66 cuốn sách. Các nhân vật đó có thể là một vị vua Do-thái (Đa-vít) hay một lãnh đạo tôn giáo (Mô-se), một tiên tri (Sa-mu-en), một tướng lãnh (Giô-sua), thủ tướng (Đa-ni-en), một bác sĩ (Lu-ca), một quan chức thâu thuế (Ma-thi-ơ), một người chăn cừu (A-mốt) hay một người đánh cá ít học (Phi-ê- rơ), một thầy dạy luật cao học (Phao-lô)... Họ sống không những xa cách nhau về địa dư trên ba lục địa Á, Âu và Phi châu, nhưng còn xa cách nhau về thời gian, qua những giai đoạn lịch sử kéo dài 1600 năm và cuối cùng họ còn xa cách nhau bởi những nền văn hóa khác biệt. Các phần của Kinh Thánh được viết bằng ba ngôn ngữ là tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng A-ra-mi và tiếng Hi lạp. Với số lượng người viết nhiều như vậy, từ đủ các tầng lớp xã hội, cộng với sự chia cách về địa dư, ngôn ngữ và thời gian, chắc Kinh Thánh sẽ là một mớ văn tự thập cẩm và mâu thuẫn lắm. Nhưng, tất cả những ai đã từng đọc Kinh Thánh một cách thực lòng đều thấy đây là một tác phẩm có một không hai. Nó hết sức thống nhất về chủ đề, trôi chảy về văn chương, chính xác về lịch sử và điều quan trọng nhất là có ảnh hưởng quan trọng đến người đọc, dù người đọc là nông dân sống cách đây 30 thế kỷ hay bác học đang ngồi trước máy điện toán hôm nay. Điều ấy chứng minh về sự hiện hữu của một Tác Giả Vô Hình. Đấng ấy đã "hà hơi, mở óc, làm sáng mắt tâm linh" cho 40 phàm nhân và sử dụng bàn tay của họ để viết Lời Thánh xuống trang giấy, lưu truyền cho đến thế hệ chúng ta ngày hôm nay.
Kinh thánh không phải là văn tự đầu tiên của con người, nhưng chẳng có cuốn sách cổ nào có thể tồn tại một cách trọn vẹn hơn 3500 năm như Kinh Thánh. Một số khai quật có thể phát hiện ra một phần các hình vẽ trên vách đá của người xưa, nhưng chẳng có ai đọc ra, hiểu nổi và cuối cùng mưa nắng sẽ làm cho nó tiêu mòn. Kinh Thánh tồn tại được với một chất lượng tuyệt vời bởi Đức Chúa Trời đã sử dụng một dân tộc đặc biệt chuyên lo sao chép gìn giữ Kinh Thánh. Trong dân Do thái có những người được chọn riêng ra, cả cuộc đời họ chẳng làm gì khác hơn ngoài việc sao chép Kinh Thánh. Họ cẩn thận ghi lại từng dấu phẩy dấu chấm, không bỏ qua một nét chữ nào nhỏ nhất trong nguyên bản. Khi hoàn tất công việc họ giao cuốn Kinh Thánh mới cho một ban chuyên môn kiểm duyệt. Ban kiểm duyệt nghiêm túc đếm chữ (không phải đếm câu, từ, nhưng đếm chữ, đếm dấu), từ giữa đếm ra rồi cộng lại. Nếu thấy thừa hoặc thiếu một chữ nào so với tổng số chữ của nguyên bản, họ đem bản sao đi đốt ngay để khỏi lưu truyền sự sai trật. Khi dân tộc Do-thái bị bắt đi làm nô lệ và li tán khắp bốn phương tám hướng, có một nhóm đến sinh sống ở nước Y-ê-men. Mặc dầu bị cách ly khỏi quê cha đất tổ hàng ngàn dặm, họ tiếp tục sau chép bảo tồn Kinh Thánh. Một ngàn năm sau, các nhà khoa học đem ra so sánh Kinh Thánh của nhóm dân Do-thái ở châu Âu và Trung Cận Đông với bản của nhóm Do-thái ở Y-ê-men. Thật kỳ lạ! Bao nhiêu thế hệ trong vòng một nghìn năm, sao chép với các công cụ thô sơ, mà chỉ có 9 chữ bị nhầm lẫn, trong tổng số 304,805 chữ. Độ chính xác là 99,997 %. Những chữ sai sót đó lại là những chữ không quan trọng, sự khác nhau ấy không đủ sức làm thay đổi ý nghĩa của các từ và câu trong Kinh Thánh. Điều ấy không chỉ nói lên sự cẩn thận của dân Do-thái nhưng còn chứng minh sứ mạng mà Đức Chúa Trờiđã giao cho họ. Có người hỏi "Ích lợi được làm dân Giu-đa (Do-thái) là gì?", Sứ đồ Phao-lô trả lời: "Nhiều lắm, nhiều hơn mọi đằng. Trước hết, Lời của Đức Chúa Trời được phó cho dân Giu-da" (sách Rô-ma chương 3 câu 1,2)
Không có cuốn sách nào bị người đời ghét như Kinh Thánh. Ít nhất thì người ta miệt thị, khinh rẻ, cho không cũng không nhận. Nhiều người dùng trang giấy của Kinh Thánh để cuốn thuốc lá hút. Trong nhiều trường hợp, chính quyền nghiêm cấm không cho xuất bản, lưu trữ Kinh Thánh, ai giấu Kinh Thánh sẽ bị bắt bỏ tù, hoặc có thể bị giết hại. Năm 1850, nhà triết học Vôn-tơ nổi tiếng đã tuyên bố rằng sau trăm năm. Kinh Thánh sẽ biến mất vì lạc hậu. Một thế kỷ trôi qua, không những Kinh thánh chẳng mất đi nhưng dinh thự của Vôn-tơ đã trở nên trung tâm của Thánh Kinh Hội Thụy sĩ. Chiếc máy in của ông lại được sử dụng để in Cuốn Sách thiêng liêng mà ông khinh rẻ, thù ghét. Kinh Thánh không những tồn tại suốt 3500 năm nhưng ngày nay, nó đã được dịch ra trên 2000 trong 3000 ngôn ngữ khác nhau của loài người. 2000 ngôn ngữ đó lại là ngôn ngữ của 97% dân số trên thế giới. Số lượng Kinh Thánh được in trong một năm (1966) là 87.3 triệu cuốn. Các nhà xuất bản nói rằng họ phải sản xuất mỗi một phút 22 cuốn Kinh Thánh mới thoả mãn nhu cầu. Ở một nước kia, thu nhập bình quân của một người dân là 30 - 40 đô một tháng, thế mà một cuốn Kinh Thánh bán ngoài chợ đen với giá 10 đô.
Sự tồn tại và phổ biến của Kinh Thánh chứng minh đây không phải là cuốn sách bình thường nhưng là "Cuốn Sách Có Một Không Hai" hay "Sách Thần".
Nhiều người không dám động đến Kinh Thánh, vì sợ đọc nó sẽ bị cảm hóa, sẽ phải phủ nhận những gì mình đang tin tưởng theo đuổi. Linh tính báo cho họ biết đây không phải là cuốn sách bình thường, nhưng là lời Thánh của Đấng Tạo Hóa.
Lịch sử bao gồm các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai. Không có một cuốn sách lịch sử nào cho biết chính xác gốc gác, tổ tiên, địa điểm và thời gian hình thành của một dân tộc như Kinh Thánh cho biết về dân tộc Do Thái. Mặc dầu Kinh Thánh cho biết về cội nguồn của xã hội loài người nói chung, lịch sử dân tộc Do Thái được ghi chép hết sức tỷ mỷ bởi nó dính liền với chương trình của Đức Chúa Trời đối với nhân loại: Dân Do-thái được Ngài chọn ra để viết và lưu truyền Kinh Thánh, đồng thời dọn đường cho Chúa Giê-su giáng trần để cứu chuộc con người khỏi vòng tội lỗi và sự chết.
Kinh Thánh không những chính xác về lịch sử nhưng hết sức đặc sắc về tiên tri. Có hơn 300 lời tiên tri nói về Chúa Giê-su đều được ứng nghiệm. Nếu chỉ tính đến 8 lời tiên tri mô tả một cách trực tiếp, rành mạch về chi tiết và thời gian của sự giáng sinh, nơi sinh, về công việc, về cái chết và sự sống lại của Chúa Giê su, xác xuất ứng nghiệm của 8 tiên tri ấy đã là 1/10 17 . (Một trên một trăm triệu tỷ). Xác xuất này tương đương với việc bịt mắt một người và yêu cầu người ấy đến nhặt ra một đồng xu đã được đánh dấu trong số một trăm triệu tỷ đồng xu rải ra khắp đất nước Việt nam với chiều dày 60 phân,
Xác xuất ứng nghiệm 48 tiên tri là 1/10 157 (1 trên 10 lũy thừa 157). Nếu chỉ có một tiên tri về Chúa Giê-su không ứng nghiệm, Kinh Thánh sẽ không thánh, nhưng nếu tất cả 300 lời tiên tri đều ứng nghiệm thì chúng ta nghĩ như thế nào về Cuốn Sách có một không hai này.
Nói gần gũi hơn là lịch sử người Do Thái. Khoảng 1500 năm trước Công nguyên, Mô-se, người viết năm cuốn sách đầu tiên trong Kinh Thánh đã tiên tri rằng nếu dân Do Thái không vâng lời Đức Chúa Trời, họ sẽ bị đô hộ và mất nước. Quả nhiên, lời tiên tri đó được ứng nghiệm, năm 467 trước Công nguyên, đế quốc Ba-bi-lon đã chinh phục dân tộc cứng cổ này và mở đầu một giai đoạn lịch sử vô cùng tăm tối và đẫm máu. Không có dân tộc nào trên thế gian bị ghét như dân tộc Do-thái, không có ai phải chịu đựng nhiều chiến tranh như họ. Họ đã nhiều lần bị ngoại bang cai trị, bị bắt đi làm nô lệ và cuối cùng dân tộc Do-thái bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Họ mất nước không chỉ một vài chục, hay trăm năm nhưng 25 thế kỷ. Trong thời gian bị đi đày, dân Do-thái bị các đế quốc Ba-bi-lon, A-si-ri, Ba tư. Hi-lạp, La Mã, Tây Ban Nha, Anh và Nga cố gắng đồng hóa hay sát hại. Đỉnh cao của tang thương là Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Đức Quốc Xã bắt 6 triệu người Do Thái bỏ vào lò thiêu sống. Mô-se cũng tiên tri rằng tuy mất nước, Đức Chúa Trời sẽ không để cho họ bị diệt vong và sau một thời gian họ sẽ được quay lại quê cha đất tổ. Quả thực vậy: Khi cuộc chiến kết thúc, những người Do-thái sống sót trở về xứ Pa-le-stin. Ngày 15 tháng Năm, năm 1948, sau 2483,8 năm tản mạc trên khắp các lục địa của Trái đất, họ thành lập nước I-xơ-ra-en. Lời của tiên tri Ê-xê-chiên khoảng 600 năm trước Công nguyên về việc hồi hương và lập nước của dân Do-thái được ứng nghiệm chính xác đến từng ngày, tháng và năm.
Kinh Thánh không những chỉ ghi chép sự kiện lịch sử đã qua hoặc tiên tri về dân tộc Do thái và các dân tộc lân cận, nhưng còn tiên tri cả về ngày tận thế. Sách Đa-ni-en (chương 12 câu 4) cho biết trong ngày cuối cùng: "nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, sự học thức sẽ được thêm lên". Làm sao ông có thể biết rằng ngày nay con người đã có máy bay phản lực, người dân tầm thường cũng đủ sức mua vé máy bay đi thăm người thân cách xa nửa vòng Trái Đất. Làm sao ông có thể biết rằng sau ông 25 thế kỷ, người ta có máy điện toán làm được hàng tỷ tỷ phép tính trong một giây và am tường về vũ trụ, nguyên tử và tế bào v.v..,
Rồi Phi-ê-rơ, một người đánh cá ít học trong thời Chúa Giê-su cũng tiên tri rằng: "Ngày của Chúa sẽ đến (bất ngờ) như kẻ trộm. Lúc bấy giờ các tầng trời có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất đều bị đốt mà tiêu tan, tan chảy, đất cùng mọi công trình trên đó sẽ bị đốt cháy cả." Trong thời ông sống, trong khi người ta dùng tên tẩm dầu để bắn lửa đốt thành kẻ thù, làm sao ông biết được rằng 20 muơi thế kỷ sau, con người đã chế tạo được bom nguyên tử, khinh khí? Lời tiên tri của ông trở thành hiện thực một phần khi Mỹ bỏ bom xuống Hi-rô-shi-ma năm 1945, một quả bom thôi cũng đã san bằng cả một thành phố lớn, khung bê tông cốt thép, các cầu và đường ray xe lửa thực sự tan chảy thành nước. Trong năm mươi năm qua nhân loại sống hồi hộp trước nguy cơ chiến tranh hạt nhân giữa phương Đông và phương Tây. Ngày nay tuy cuộc chiến tranh lạnh đã kết thúc, nhưng trữ lượng vũ khí hạt nhân Nga, Mỹ, Trung Quốc còn tàng trữ cũng đủ làm trái đất nổ tung vài lần. Đến những nước nghèo kém như Bắc Hàn, Ấn Độ, Pa-kít-stan cũng đã ngoi lên thành cường quốc hạt nhân. Ngày cuối cùng của nhân loại mà Phi-ê-rơ nói đến chẳng cách xa chúng ta bao nhiêu.
Những ai quan tâm đến lịch sử nhân loại trong những ngày cuối cùng không thể coi thường câu nói của một Người Thợ Mộc cách đây 2000 năm: "Có nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng:"Ta là Đấng Christ" và sẽ dỗ dành nhiều người. Các ngươi sẽ nghe về giặc và tiếng đồn về giặc, hãy giữ mình, đừng bối rối vì những sự ấy phải đến song chưa là cuối cùng đâu. Dân này sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia. Nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất, song mọi điều đó chỉ là khởi đầu sự tai hại. Bấy giờ người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi. Các ngươi sẽ bị mọi dân ghét vì danh Ta. Khi ấy có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau và ghen ghét nhau. Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ. Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần. Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cùng sẽ được cứu. Tin Mừng về Nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra cho khắp đất. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến..." Người Thợ Mộc tiên tri ấy là ai vậy? Người ấy chính là Chúa Giê su và những điều Ngài nói động đến chúng ta ngày hôm nay, hoàn toàn chính xác một cách kỳ lạ với tất cả những gì đang xảy ra trên thế gian.
Chẳng có cách giải thích nào khác ngoài công nhận rằng lịch sử và tiên tri chứng minh cho sự linh thiêng của Lời Hằng Sống được ghi chép trên những trang giấy mà chúng ta gọi là Kinh Thánh.
Mặc dầu được bắt đầu viết cách đây 3500 năm các luật pháp trong Kinh Thánh không phải thô thiển, lạc hậu như người ta nghĩ. Trái lại Thánh Kinh là nền tảng cho luân lý, đạo đức và luật pháp cho hầu hết các quốc gia ngày nay. Chỉ riêng trong Mười Điều Răn, chúng ta thử nghĩ xem những điều sau đây có lạc hậu không: "Ngươi phải hiếu kính cha mẹ; Chớ ăn trộm; Chớ giết người; Chớ phạm tội tà dâm; Chớ nói dối; Chớ tham lam, thèm muốn của cải, vợ, con, tôi tớ của người khác". Nếu xã hội nào thực hiện được những điều răn trên, các công dân ở đó chắc chắn sẽ được sống bình an hạnh phúc. Chúa Giê-su dạy rằng: "Hễ điều chi các ngươi muốn người ta làm cho mình thì cũng làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và tiên tri" (sách Ma thi-ơ chương 7 câu 12) Phải chăng đây là những lời khuyên răn lỗi thời cho thế kỷ 21?
Bản thân điều răn: "Hãy nhớ ngày nghỉ làm ngày thánh. Ngươi làm việc mình trong sáu ngày, ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Đức Chúa Trời. trong ngày đó ngươi, con trai con gái, tôi tớ súc vật trong nhà ngươi... đều chớ làm công việc chi hết." (sách Xuất Thế Ký chương 20 câu 8) Điều răn này đã được ban ra 35 thế kỷ trước khi luật lao động các nước mới bắt đầu ngăn cấm các chủ xưởng bắt buộc công nhân lao động bảy ngày một tuần. Không những Đức Chúa Trời dự định ngày nghỉ cho con người nhưng cho cả con vật nữa. Điều ấy chứng tỏ tình yêu thương của Đấng Tạo Hóa cho mọi tạo sinh. Ngay trong vòng những người có học, nhiều bác học, bác sĩ, kỹ sư làm ngày làm đêm trong những điều kiện vất vả về thể xác, căng thẳng về tâm hồn, nhưng không biết cách nghỉ ngơi theo luật của Đức Chúa Trời nên bị bệnh tật và chết sớm, thật đáng tiếc thay.
Cũng trong Mười Điều Răn, bốn điều đầu tiên nói về sự tôn kính thờ phượng Thưọng Đế. Chúa Giê-su cũng phán: “Nhưng trước hết các ngươi phải tìm kiếm nước của Đức Chúa Trời và mọi sự công bình của Ngài, mọi sự khác Ngài sẽ ban cho" (Sách Ma-thi-ơ chương 6 câu 33). Ngày nay, một số công xưởng, cơ sở lớn ở những nước văn minh bắt đầu dành riêng địa điểm và thời gian cho nhân viên cầu nguyện và thờ phượng. Kết quả là năng xuất lao động lại tăng lên, tan nạn lao động giảm đi, quan hệ giữa mọi người trở nên hòa hợp, cảm thông và tương trợ lẫn nhau. Ban giám đốc cho rằng mình đã biết dùng tâm lý học, nhưng thực ra đây là sự chúc phước của Đức Chúa Trời cho một tập thể khi ở đó có những người mộ đạo, tin và làm theo những điều răn của Ngài.
Trong các thế kỷ trước người ta cho rằng Kinh Thánh chẳng qua là một mớ sách cổ, ghi chép những truyền thuyết của người xưa đuợc tôn giáo thần thánh hóa lên. Trong thế kỷ 20 khảo cổ học đã phát hiện rất nhiều di vật lịch sử chứng minh cho sự thực hữu của các địa phương, nhân vật, sự kiện được nhắc đến trong Kinh Thánh. Ngày nay nhiều viện khảo cổ đang dùng Kinh Thánh để đi tìm những vết tích còn lại của nền văn hóa loài người nguyên thủy. Khuôn khổ cuốn sách này không cho phép đi sâu vào chi tiết hơn tuy nhiên xin đưa ra hai thí dụ điển hình.
Về tổ tiên loài người. Kinh Thánh cho biết ban đầu Đức Chúa Trời tạo ra một người nam và một người nữ tên là A-đam và Ê-va. Khi đó, vì không có tội nên họ trần truồng mà chẳng hổ thẹn với nhau. Họ sống trong một cái vườn gọi là vườn Ê-đen. Đức Chúa Trời cho phép họ ăn tất cả mọi trái cây trừ một trái giữa vườn, trái ấy có khả năng cho người ăn sự hiểu biết. Bà Ê-va không vâng lời Đức Chúa Trời nhưng nghe lời cám dỗ của con ma quỷ đội lốt con rắn, nên hái trái cấm ăn rồi đưa cho chồng mình. Từ đó bản tính tội lỗi, bắt đầu thâm nhập và ngự trị loài người, loài người bắt đầu đau ốm bệnh tật và bị chết. Đức Chúa Trời phải giết một con vật, lột da làm quần áo cho họ rồi đuổi họ ra khỏi vườn Ê-đen, để họ khỏi ăn tiếp trái cấm thứ hai có khả năng cho người ăn sự sống đời đời. Con người không còn có thể thừa hưởng cuộc sống dễ dãi nữa nhưng bắt đầu đổ mồ hôi, rơi nước mắt để kiếm ăn....
Câu chuyện trong Kinh Thánh được xác minh bởi những phát hiện ở Ba-bi-lon. Các nhà khảo cổ đã đào bới và tìm thấy những văn tự khắc trên bia đá mô tả lịch sử của A-đam. Một trong những bia đá ghi lại sự tích A-đáp: "A-đáp là tổ tiên của loài người, ông rất thông minh và vô tội. Lúc đầu ông sống ở (vườn) E-ri-đu,.. Ông làm mất lòng Các Thần... nhờ (ăn trái của sự) hiểu biết... (vì vậy) ông không còn có thể sống đời đời nưã... Trái cây mang sự sống đời đời thì ông không đụng đến.... Từ đó bệnh tật bắt đầu đến ngự trị loài người... Các Thần nói rằng: Nó sẽ không bao giờ được nghỉ ngơi.". Các Thần mặc cho A-đáp một bộ quần áo tang..."
Sự tích này giống hệt câu chuyện trong Kinh Thánh chỉ trừ tên của A-đam tương đương với A-đáp và tên vườn Ê-đen tương ứng với E-ri-đu. Không những chỉ ở Trung Cận Đông nhưng ở nhiều nơi trên nhiều lục địa khác nhau người ta đều được nghe những sự tích về tổ tiên của loài người, minh họa một phần sự thực trong Kinh Thánh.,
Người ta còn tìm thấy hai dấu ấn bằng đá ở Ba-bi-lon với hai hình vẽ miêu tả câu chuyện ông bà A-đam và Êva phạm tội. Trên hình đầu tiên có một cây ở giữa, có một đôi trai gái ngồi hai bên và một con rắn đứng đằng sau thì thầm xúi dục người nữ. (Kinh Thánh còn cho biết là chỉ sau khi bị Đức Chúa Trời trừng phạt, loài rắn trở nên loài bò trườn bằng bụng). Dấu ấu này đang được trưng bày ở Viện Bảo Tàng Anh Quốc.
Hình trên dấu ấn thứ hai được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Trường Đại Học Phi-la-đen-phi-a, Hoa kỳ. Nó được tìm thấy tại Tê-pê Gau-ra (Tepe Gawra) cách thành phố Ni-nê-va, nước I rắc hai mươi cây số. Trên dấu ấn bằng đá có hình vẽ miêu tả hai người trần truồng lom khom ra đi trong sự thất vọng, sợ hãi. Đằng sau họ có một con rắn. Tiến sĩ Spai-sơ (E.A Speiser) xác định tuổi của dấu ấn bằng đá đó khoảng 3.500 năm, chẳng bao lâu sau khi A-đam và Ê-va bị đuổi ra khỏi vườn E-đen theo Kinh Thánh.
Kinh Thánh cũng cho biết về nguồn gốc các dân tộc và tiếng nói. Trước đây con người có cùng chung một tiếng nói. Sau vì lòng kiêu ngạo nên họ muốn xây một cái tháp cao chọc trời để làm nổi danh, để chứng tỏ “ta đây” với Đức Chúa Trời. Tháp đó gọi là tháp Ba-ben. Đức Chúa Trời không vui lòng bèn khiến con người bắt đầu nói các thứ tiếng khác nhau. Chính vì vậy mà công cuộc xây dựng của họ phải bỏ giở và con người bị phân tán ra khắp bốn phương trở nên các dân tộc. Câu chuyện này được chép lại trong Kinh Thánh (Sách Sáng Thế Ký chương 11) và được kiểm chứng qua khảo cổ học. Tàn tích của tháp cổ được tìm thấy ở Bo-síp-pa (Borshippa), khoảng 10 dặm tây nam Ba-bi-lon. Nhà khảo cổ học Hen-ri Rô-li-sơn (Henry Rawlison) tìm thấy một bia đá ở nền móng của tháp cổ. Trên bia có đoạn ghi rằng: "Đây là tháp Bo-síp-pa, đã được một vị vua trước đây (42 đời) dựng lên, nhưng không thể kết thúc. Người dựng lên tới độ cao ... thì phải bỏ dở.., Nay đã bị đổ nát theo thời gian... Bây giờ thần Ma-đúc (Marduk) thúc dục ta xây lại thành ấy. Ta chẳng thay đổi địa điểm và nền móng của tháp cổ. Nhưng chỉ làm mới lại tường gạch, mái và đỉnh giống y hệt như hình mẫu ngày xưa...". Đây là lời của một vị vua Ba-bi-lon sau này đã cố gắng xây cất lại tháp Ba-ben mà Kinh Thánh mô tả. Đặc biệt hơn, tháp này nằm không xa đền thờ thần Ma-đúc ngày nay. Nhà khảo cổ Smít (G. Smith) còn tìm thấy một bia đá khác có ghi: " Tháp cổ làm mất lòng Các Thần, vì vậy Các Thần khiến cho tháp sụp xuống qua đêm ... dân tình bắt đầu tản mạc bốn phương và ngôn ngữ của con người trở nên khó hiểu...". Ngày nay, sau hơn bốn ngàn năm lịch sử, mặc dầu đã bị mưa gió tàn phá theo thời gian, di tích tháp Ba-ben vẫn còn đứng đó, với độ cao 45 mét và chu vi 700 mét.
Mô-se là người viết Sáng Thế Ký, (sách đầu tiên trong Kinh Thánh). sống khoảng 1500 năm trước Công nguyên. Làm sao ông biết được một cách cụ thể câu chuyện về đôi vợ chồng đầu tiên của loài người sống trước ông 2500 năm? Làm sao ông biết được câu chuyện tháp Ba-ben và nguồn gốc các dân tộc và tiếng nói. Có phải ông sao chép lại sự tích của Ba-bi-lon không? Nếu có dịp đọc năm cuốn sách của ông trong Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy câu chuyện do ông ghi lại hoàn toàn có hệ thống, rỏ ràng và chi tiết, hơn hẳn những lượng thông tin hạn chế mà khảo cổ học lượm nhặt được từ các bia đá. Là những người yêu mến khoa học, chúng ta sẽ vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng không những kiến thức về lịch sử, nhưng cả về khoa học, y học của Mô-se nói riêng và của các tác giả trong Kinh thánh nói chung vượt xa sự hiểu biết đương thời và hiện đại. Điều ấy nói lên rằng các tác giả trong Kinh Thánh được Đức Chúa Trời"mở óc", "hà hơi" và sử dụng để ghi chép những điều huyền bí của Thiên Đàng trong ngôn ngữ mà người thường có thể hiểu được.
Xem tiếp kỳ sau: Kinh Thánh và Khoa học
Xem lại các bài trước: xin vô trang mạng: http://ykien.net/nngoclan00.html
Hoặc muốn đọc trọn cuốn sách tiến Hóa hay Tạo Hóa, xin tới http://www.geocities.com/timhieuchanly
Địa chỉ liên lạc: timhieuchanly@yahoo.com
http://www.ykien.net
|