Thuyết Tiến Hóa, phần 11
Về Kinh Thánh,
Phải đây là lời Đức Chúa Trời ?
Kinh Thánh cho biết tổ tiên loài người là ông A-đam và bà Ê-va. Đức Chúa Trời tạo ra ông A-đam từ đất. Bản thân chữ A-đam có nghĩa là đất. Khoa học đã chứng minh thành phần hóa chất của cơ thể con người cũng giống như thành phần của đất. Thể xác của con người về phần vật lý, hóa học thuần túy tương đương với hai gánh đất nặng 50 kg, bán giá 5 xu chẳng ai mua. Tuy nhiên trong con người còn có một cái gì nữa mà tài sản của cả thế gian không thể mua được. Đó là linh hồn. "Người nào được cả thiên hạ mà mất linh hồn có lợi ích gì?" (Lời Chúa Giê-su , sách Ma-thi-ơ chương 16 câu 26).
Đức Chúa Trời tạo ra ông A-đam từ đất là một điều khó hiểu, Ngài làm ra bà Ê-va từ một xương sườn của ông A-đam lại là một chuyện khó hiểu hơn. Đây là chuyện huyền thoại hay khoa học? Hầu hết tất cả mọi người, chưa nói đến các nhà khoa học đều cười về sự ngây ngô của câu chuyện Đức Chúa Trời khiến ông A-đam ngủ rồi lấy một chiếc xương sườn của ông và nắn ra một người nữ . Chẳng có gì ngạc nhiên khi người ta cho những ai tin Kinh Thánh là hạng người vô học, trí óc chưa được tiến hóa.
Trong năm 1998, cả thế giới kinh ngạc trước sự thành công của các nhà khoa học Anh trong việc sao tạo một con cừu từ một con cừu khác. Họ lấy một tế bào trứng chưa được thụ thai của con cừu thứ nhất, tách nhân bỏ đi. Sau đó họ lấy nhân của một tế bào từ vú của con cừu thứ hai, ghép vào tế bào trứng không nhân theo kiểu râu ông này cắm cằm bà kia. Sau năm ngày nuôi tế bào nhân tạo trong một dung dịch đặc biệt (chỉ chứa 5% huyết thanh của bài thai con bê thay vì 10%), họ cấy nó vào tử cung của con cừu thứ ba. Kết quả là tế bào này đã phát triển thành hài nhi và cuối cùng các nhà khoa học có được một con cừu con sao tạo giống hệt con thứ hai.
Trong nhân của mỗi tế bào đều có một hệ thống thông tin di truyền cho tất cả các chi thể và chức năng của cơ thể. Di truyền học phát hiện ra rằng khi được nuôi trong dung dịch có chứa 10% huyết thanh của bào thai con bê, nhân của tế bào vú sẽ khiến tế bào trứng nhân tạo phát triển thành tế bào vú mới, bởi chỉ có gien đặc trưng cho tế bào vú trở nên tích cực còn tất cả các gien khác bị ức chế. Khi người ta dùng dung dịch 5%, tất cả các gien đều trở tích cực và tế bào trứng nhân tạo sẽ phát triển thành hài nhi. Đây là một quá trình hết sức phức tạp, người ta thử cấy 277 tế bào trứng nhân tạo mà chỉ có có một tế bào trứng phát triển thành con cừu mà thôi.
Dư luận thế giới vừa vui mừng vừa lo sợ trước thành công của khoa học. Mừng là vì con người nay có thể tạo ra các loài cừu nhiều lông, loài cá ít xương, loài bò nhiều thịt và loài vịt đẻ nhiều trứng v.v... Lo là các bác học sẽ chế tạo ra một "loài người siêu đẳng" khôn hơn chúng ta ngày nay và sẽ thay thế địa vị làm chủ Trái Đất của chúng ta. Nỗi lo này không phải không có căn cứ khi sự sao tạo một động vật cấp cao như con cừu đạt được kết quả mĩ mãn.
Nếu con người sẽ có thể sao tạo con người (theo lý thuyết) thì làm sao Đức Chúa Trời không có khả năng làm chuyện đó? Cách đây 3500 năm Mô-sê đã viết về một quá trình "sao tạo" đầu tiên với xác xuất thành công 100%. Đức Chúa Trời lấy xương của A-đam để chế biến thành Ê-va. Điều đó có lý không? Có chứ. Các nhà khoa học với sự hiểu biết hạn hữu, phương tiện thô sơ mà còn làm được chuyện không ngờ huống chi là Đấng Sáng Tạo, tác giả của Giải phẫu Sinh lý và Di truyền học. Hơn nữa, các nhà khoa học chỉ sử dụng các vật liệu có sẵn trong thiên nhiên, còn Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo mọi vật từ con số không, chính Ngài là Đấng đã đặt những định luật di truyền học mà khoa học ngày nay đang khám phá và sử dụng.
Chúng ta lại còn biết tế bào của nam giới có nhiễm thể X và nhiễm thể Y trong khi tế bào của nữ giới chỉ có hai nhiễm thể X mà thôi. Nếu tinh trùng mang nhiễm thể Y gặp trứng trước, hài nhi sẽ là con trai, nếu tinh trùng mang nhiễm thể X gặp trứng trước, hài nhi sẽ là con gái. Sinh con trai hay con gái hoàn toàn không phải do người mẹ quyết định, thế mà trong thế kỷ hai mươi này nhiều người (trong đó có cả những người làm khoa học) buộc tội một cách oan ức cho vợ mình không đẻ được con trai để nối giõi. Còn Kinh Thánh ngay từ thời sứ đồ Phao lô, năm 50 sau CN đã khẳng định rằng: "không phải đàn ông ra từ đàn bà nhưng đàn bà ra từ đàn ông" (sách Cô-rin-tô thứ nhất chương 11 câu tám). Câu này trước hết nói về thứ tự tạo dựng con người ngay từ lúc ban đầu. Tuy nhiên nếu dùng nó để minh họa sự hình thành giới tính của hài nhi cũng không phải là sai. Nói cách khác: Con trai, con gái sinh ra, điều ấy không phục thuộc vào nhiễm thể của mẹ, nhưng phục thuộc vào nhiễm thể của cha.
Người ta đang nói đến chuyện lọc riêng các tinh trùng ra để có thể có con trai, con gái theo ý muốn. Nếu con người có thể làm được điều đó thì làm sao chuyện Đức Chúa Trời sáng tạo (sao tạo) ra bà Ê-va từ xương sườn ông A-đam lại là chuyện vô lý? Trong tế bào của ông A-đam có nhiễm thể X và Y, Đức Chúa Trời chỉ cần tách riêng chúng ra và cho phép nhiễm thể X phát triển thành bà Ê-va. Cụ thể Ngài làm cách nào , thời gian bao lâu, dung dịch mấy phần trăm, cường độ dòng điện kích thích là bao nhiêu, hoặc Ngài có cần bất thứ những gì nói trên không, Kinh thánh không cho biết. Nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng nhất là công việc Ngài làm chẳng phản khoa học, nhưng siêu việt hơn khoa học của con người hàng tỷ lần.
Giả sử Đức Chúa Trời tạo ra phụ nữ trước nam giới, rồi dùng một tế bào của phụ nữ để sao tạo... Hậu quả chúng ta sẽ chỉ có một nữ giới khác và cả nhân loại đều là nữ giới vì trong bà Ê-va chỉ có một loại nhiễm thể X. Chúng ta thấy không, đến thứ tự tạo dựng nam nữ Kinh Thánh cũng không nhầm lẫn. Làm sao ông Mô-sê khi viết về công trình sáng tạo biết được cơ cấu di truyền khác nhau giưã hai giới tính, nếu như Đức Chúa Trời không "mở óc" cho ông.
Các nhà xã hội học và nhân chủng học không có cách nào nhờ thuyết tiến hóa để giải thích được nguồn gốc của sự khác biệt giữa các sắc tộc, nét mặt, màu da, tiếng nói v.v... Ông Tây mũi khoằm, bà Nga mắt xanh, anh Phi tóc xoăn v.v... Sự khác biệt ấy đến từ khi nào? Vì sao? Liệu sau này loài người có trở nên các loài khác nhau đến nỗi không còn có thể liên hệ được với nhau nữa hay không?
Để các sắc tộc có thể hình thành, xã hội loài người phải bị phân chia thành những nhóm nhỏ, sống cách biệt nhau. Khi đó người nhóm này chỉ có thể giao phối gần gũi với người trong nhóm mình, tạo nên con cháu có những đặc tính giống hệt cha mẹ. Thật chẳng có cách nào giải thích tốt hơn câu chuyện về nguồn gốc các dân tộc được ghi chép trong Kinh Thánh.
Đầu tiên Đức Chúa Trời tạo ông A-đam và bà Ê-va, từ ông bà ấy sinh ra loài người. Sau khi loài người bị nạn Hồng thủy tiêu diệt, bốn đôi vợ chồng còn sống sót trở nên tổ tiên của những người hiện đại ngày nay. Họ có cùng một màu da, một dáng đi, một nét mặt, một tiếng nói. Một ngày kia, con người cùng nhau xây một chiếc tháp cao để "lên mặt với Đức Chúa Trời". Đức Chúa Trời bèn khiến cho ngôn ngữ họ trở nên khác biệt, người này nói người kia không hiểu. Công việc họ đành phải bỏ giở và họ bắt đầu di cư đi khắp bốn phương tám hướng. Chiếc tháp ấy có tên là tháp Ba-ben, có nghĩa là tháp Ngôn ngữ.
Các nhà ngôn ngữ học có thể hệ thống các ngôn ngữ và chứng minh rằng tất cả các ngôn ngữ của loài người đều xuất phát từ một nguồn gốc. Trước khi con người bị phân chia, sự lưu thông di truyền không bị hạn chế nên tất cả mọi người đều mang mầu sắc, nét mặt, tầm vóc giống nhau. Sau khi bị phân chia, nhờ quá trình giao phối gần gũi trong nội bộ từng nhóm, một số gen tích cực cứ tiếp tục tích cực còn một số gen bị ức chế cứ tiếp tục bị ức chế suốt từ thế hệ này qua thế hệ khác. Kết quả là chúng ta có những chủng tộc khác nhau về hình thể bên ngoài.
Lấy ví dụ về người trồng hoa hồng. Nếu ông ta chỉ cho phép những bông hoa đỏ được thụ tinh, còn những bông hoa hồng hồng thì bị ngắt đi. Dần dần ông sẽ có giống hoa hồng đỏ thắm rực rỡ. Bằng phương pháp thụ tinh có chọn lọc ông ta có thể tạo ra các giống hoa hồng khác nhau, có giống màu trắng phau và có giống màu đen mượt như hồng nhung. Tuy khác nhau về hình dáng bên ngoài nhưng về giải phẫu sinh lý, di truyền bên trong chúng vẫn là loài hoa hồng. Nếu cho hai bông khác màu kết hợp với nhau chúng vẫn tạo nên bông hồng với tất cả các đặc tính của loài hoa đó.
Cũng như vậy người ta có thể tạo ra các loài chó giống, mèo giống, ngựa giống. Các chủng tộc của loài người được thành hình không vì thụ tinh có chọn lọc, nhưng vì sự chia cách xã hội, ngôn ngữ và địa dư. như đã được mô tả trong Kinh Thánh.
Câu chuyện được ghi trong Kinh Thánh 3500 trước đây đã cung cấp cho khoa học một cách giải thích hết sức hợp lý về nguồn gốc các chủng tộc và ngôn ngữ của loài người. Thêm vào đó, Kinh Thánh khẳng định rằng dù hình dáng bên ngoài khác nhau, tất cả mọi cá nhân trên thế gian đều bình đẳng về sinh lý cũng như giá trị tinh thần. Trái lại, những kẻ cuồng tín theo đuổi thuyết tiến hóa cực đoan thường hay dùng khẩu hiệu " Loài nào mạnh loài ấy tồn tại" để thanh minh cho thái độ phân biệt chủng tộc hay hành động diệt chủng. Đó là phong trào bài trừ người da đen ở Nam phi hay các lò thiêu người Do thái ở Đức Quốc Xã. Chính Hít le tuyên bố rằng người Đức là chủng tộc thượng đẳng, các giống người yếu hèn hơn như Do-thái, Tây Âu và Đông Âu cần phải bị hủy diệt để bảo vệ môi sinh cho người Đức. Khi thua trận, hắn lại công nhận rằng người Đông Âu, ngưòi Anh lại cao cấp hơn nên đã thắng trận. Trước mặt Đức Chúa Trời, con người đều được tạo dựng trong hình ảnh của Ngài và mọi linh hồn đều có giá trị tương đương như nhau.
Có một thủy thủ người Anh tên là Rô-bin-sơn Cờ-ru-sô là người duy nhất sống sót trong vụ chìm tàu. May mắn thay anh trôi dạt vào hòn đảo không có người ở. Vì sợ bị quên bẵng theo thời gian, Rô-bin-sơn phải hàng ngày khắc những dấu mốc vào gốc cây để ghi nhớ ngày tháng. Tổng cộng anh phải khắc 10307 dấu mốc trên gốc cây, đánh dấu sự bất hạnh của mình kéo dài 28 năm hai tháng, mười chín ngày. Khi Rô-bin-sơn cứu được một người sắp bị thổ dân làm thịt cúng thần, anh đặt tên cho người bạn mới của mình là Thứ Sáu để kỷ niệm ngày chấm dứt hoàn cảnh cô đơn bất hạnh của anh trên hòn đảo hoang. Ngày anh được cứu và đưa về Anh quốc là 19 tháng 12 năm 1686, sau khi xa nhà 35 năm.
Khi một người sắp chết, lời nói cuối thể hiện một cách chân thật nhất nỗi lòng người ấy. Nữ hoàng Anh quốc thốt lên lời trăng chối: "Ôi, Ước gì tôi có thể đánh đổi tất cả tài sản của tôi lấy một chút thời gian". Hai câu chuyện trên nhắc nhở chúng ta tầm quan trọng của thời gian.
Đã nói đến khoa học là phải nói đến thời gian. Ngày nay con người đã sáng chế ra những chiếc đồng hồ nguyên tử chính xác đến mười phần tỷ giây. Suốt cả quá trình lịch sử lâu dài, người ta chẳng có cách gì hơn là phải quan sát Mặt Trời, Mặt Trăng. Thật kỳ lạ, sự quanh vòng của những thiên thể vô tri vô giác này cũng chính xác như đồng hồ nguyên tử mà con người tạo ra. Vì sao vậy?
Trong sách Sáng Thế Ký chương 1 câu 16, Đức Chúa Trời phán rằng: "Phải có các vì sáng trong các khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày và đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm". Quả thật nếu không có Mặt Trời và Mặt Trăng, loài người sẽ không thể có khái niệm thời gian. Cho dù đồng hồ nguyên tử có thể đo chính xác một phần mười tỷ giây, nhưng đơn vị đo lường thời gian vẫn là giây. Giây lại là phần chia nhỏ của phút, giờ, ngày, tháng, năm được xác định bởi chu kỳ các sự chuyển động tương đối giữa Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng.
Tuy khác nhau về ngôn ngữ và văn hóa, tất cả các dân tộc trên thế giới cùng chung nhau một cách phân chia thời gian: Năm, tháng, tuần và ngày. Trái đất quay vòng xung quanh Mặt Trời mỗi năm một vòng, từ đó chúng ta có chu kỳ của các mùa xuân hạ thu đông. Trái đất quay tròn xung quanh bản thân trục của mình mỗi ngày một lần, nhờ đó chúng ta có ngày và đêm. Mặt trăng lại quay xung quanh Trái Đất 30 ngày một lần, nhờ đó chúng ta có lịch tháng. Do sự quan sát chu kỳ của Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng, người ta định ra lịch (âm lịch), một tháng 30 ngày, một năm 365,25 ngày (Dương Lịch) theo đúng chu kỳ của Trái Đất xung quanh Mặt Trời. Tuy nhiên người ta không thể tìm thấy một liên hệ nào giữa lịch tuần bảy ngày với các chuyển động của thiên thể trong hệ Mặt Trời. Lịch tuần bảy ngày đến từ đâu? Trong lịch sử nhân loại người ta thay đổi lịch năm và lịch tháng nhiều lần, nhưng chẳng ai có thể đổi được lịch tuần. Hoàng đế Hi lạp đã dự dịnh đổi tuần trở thành tuần mười ngày mà không thành công, Hoàng Đế La mã muốn đổi thành tuần tám ngày. Các nhà cách mạng Pháp thử đổi thành tuần 10 ngày để dễ tính toán theo hệ thập phân. Chính phủ Liên xô chuyển sang tuần năm ngày năm 1929, sau đó tuần sáu ngày năm 1932, cuối cùng lại phải quay về tuần bảy ngày trong năm 1940. Vì sao tuần bảy ngày quan trọng đối với xã hội loài người như vậy? Nhiều nhà nhân chủng học, sinh lý học, lịch sử học đã chọn câu trả lời trong Kinh Thánh.
Trong Sách Xuất Ê-díp-tô Ký chương 20 câu11, chúng ta đọc: "Vì trong sáu ngày Đức Giê-Hô-Va (tức Đức Chúa Trời) đã dựng nên trời đất, biển và muôn vật ở trong đó. qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ". Chính vì vậy mà Đức Chúa Trời phán cho chúng ta bắt chước Ngài, làm việc trong sáu ngày và dành một ngày làm ngày thánh mà chúng ta gọi là Chủ Nhật hay Chúa Nhật. Ngài lại đặt vào trong lương tâm con người nhu cầu được nghỉ ngơi cho thể xác và tinh thần mỗi tuần một ngày, để tương giao với Chúa và với thân nhân. Ngài cũng khiến chính phủ các quốc gia phải tuân theo lịch trình một tuần bảy ngày, bất cứ ai muốn thay đổi nó đều bị thất bại.
Không những vậy, các nhà giải phẩu sinh lý học còn mới phát giác ra rằng cứ bảy ngày, nhịp máu của con người lại giảm đi một cách đáng kể. Nhiều chu kỳ của cuộc sống của con người và sinh vật cũng quay vòng xung quanh lịch tuần bảy ngày, ví dụ giai đoạn hành kinh bình thường của phụ nữ là 28 ngày (bốn tuần), gian đoạn thai nghén hài nhi là 280 ngày (bốn mươi tuần). Giai đoạn thai nghén của sư tử là 14 tuần, của cừu là 21 tuần, của chó là 9 tuần, của mèo là 8 tuần, thời gian ấp trứng của vịt là 4 tuần, của gà là 3 tuần v.v...
Khi Đức Chúa Trời sáng tạo ra loài người, Ngài đã chọn ra chu kỳ làm việc và nghĩ ngơi theo lịch một tuần bảy ngày để gìn giữ sự thăng bằng về sinh lý, tinh thần và tâm linh cho con người. Chính vì vậy tôi xin nhắc nhở mọi người hãy biệt riêng ngày chủ nhật làm ngày thánh, để thờ phượng Chúa, nghỉ ngơi và gần gũi với thân nhân. Một lần nữa chúng ta đã thấy Kinh Thánh không lạc hậu, vô nghĩa hay phản khoa học như nhiều ngưòi hiểu lầm.
Khi đọc Kinh Thánh, ví dụ câu 11 Sách Xuất Ê-díp-tô Ký chương 20: "Vì trong sáu ngày Đức Giê-Hô-Va (tức Đức Chúa Trời) đã dựng nên trời đất, biển và muôn vật ở trong đó. qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ". Nhiều người nghĩ rằng Chúa chỉ nói bóng gió về việc tạo dựng trời đất, biển và muôn vật trong sáu ngày. Một ngày ở đây chắc không phải là một ngày 24 giờ nhưng là một giai đoạn lịch sử. Có thể Đức Chúa Trời sáng tạo trong sáu giai đoạn lịch sử rồi Ngài nghỉ ngơi trong giai đoạn thứ bảy. Tổng cộng 7 giai đoạn là 5.5 tỷ năm tuổi Trái Đất, hay 30 tỷ năm tuổi của Vũ Trụ. Nếu vậy thì Kinh Thánh sẽ "hợp lý" với khoa học hơn.
Thực ra các khoa học gia chỉ mới phán đoán tuổi Trái Đất và Vũ Trụ. Họ không thể xác minh nó một cách chắc chắc như đinh đóng cột. Còn Kinh Thánh chẳng hổ thẹn gì khi tuyên bố Đức Chúa Trời tạo dựng trời đất, biển và muôn vật trong đó trong vòng sáu ngày. Mỗi một ngày trong công cuộc tạo hóa được đóng khung bởi câu: " Vậy có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ nhất... thứ nhì... thứ ba v.v...
Kinh Thánh có thể dùng chữ ngày để chỉ một giai đoạn lịch sử ví dụ câu "Trong những ngày sau rốt" chỉ về giai đoạn cuối cùng trước ngày Chúa Giê-su quay lại trần gian, hay "Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài thì chớ cứng lòng như lúc nổi loạn" nói về thời kỳ Phúc âm, tin nhận sự cứu rỗi bởi đức tin. Tuy nhiên những chữ ngày ở đây chẳng được giới hạn bằng buổi chiều và buổi mai. Trong hơn 700 chữ ngày được dùng trong Kinh thánh, hầu hết đều mang ý nghĩa một ngày 24 tiếng đồng hồ.
Có người dùng câu Kinh Thánh "Trước mặt Chúa một ngày cũng như một ngàn năm, ngàn năm cũng như một ngày" để biện hộ quan điểm của mình. Vậy bảy ngày sáng tạo và nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời tương đương với bảy ngàn năm. Cho dù mỗi ngày tượng trưng cho một triệu năm đi chăng nữa thì tuổi Trái Đất mới được bảy triệu năm. Thực ra lý luận như vậy chẳng giúp được gì cho thuyết tiến hóa bởi vì bảy ngàn năm hay bảy triệu năm vẫn còn quá ít so với giả thiết tuổi Trái đất là 5.5 tỷ năm. Vậy nếu giả thiết một ngày của Chúa bằng một tỷ năm thì tuổi Trái Đất là 7 tỷ tuổi, gần giống với giả thiết của khoa học. Theo Kinh Thánh thì cây cối được tạo nên trong ngày thứ ba, Mặt Trời được tạo dựng trong ngày thứ tư, sâu bọ và chim trong ngày thứ Năm. Nếu nói một ngày bằng một tỷ năm thì phải chấp nhận việc cây cối có trước khi có Mặt Trời một tỷ năm, Điều ấy có lý không? Các bông hoa có phấn, có mật để làm gì trước khi có côn trùng và cây cối có hạt để làm gì trước khi có loài chim hai, ba tỷ năm?
Có điều khó nuốt hơi là nếu công nhận "một ngày bằng một ngàn năm trước mặt Chúa" thì phải công nhận việc Chúa Giê-su kiêng ăn cầu nguyện 40 ngày đêm có nghiã là bốn mươi ngàn năm. Hay nếu công nhận "một ngày bằng một ngàn năm" (phần đầu của câu Kinh Thánh trên) thì cũng phải công nhận "một ngàn năm cũng như một ngày" (phần sau). Từ đó suy ra tuổi ông A-đam là 930 năm (chín trăm ba mươi năm, theo sách Sách thế Ký chương 5 câu 5) có nghĩa là ông mới sống chưa được một ngày.
Khi đọc một câu Kinh thánh chúng ta phải đọc cả phần trước phần sau, cả đoạn văn để hiểu Chúa đang nói về vấn đề gì. Chúng ta nên tiếp nhận nghĩa đen của câu Kinh Thánh ấy, đừng thuộc linh hóa nó lên. Có cô giáo nói với học sinh rằng “Chúa Giê-su chẳng hóa bánh cho 5000 người ăn đâu. Bánh ở đây có nghĩa là thức ăn tinh thần thôi”. Một học sinh giơ tay xin hỏi: "Thưa cô, nếu Chúa cho họ ăn thức ăn tinh thần thì làm sao khi họ đã ăn no nê, các môn đồ của Chúa còn lượm được mười hai thúng bánh vụn?" Thật không ngờ một câu hỏi hắc búa. Nếu cô giáo tin nghĩa đen của câu Kinh thánh và khả năng vô tận của Đức Chúa Trời chắc cô chẳng bị cứng lưỡi như vậy đâu.
Câu Kinh Thánh: "Trước mặt Chúa một ngày cũng như một ngàn năm và một ngàn năm cũng như một ngày" nói về sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời. Ngài chẳng chần chừ, trễ nải trong việc Ngài quay trở lại thế gian, nhưng bày tỏ lòng nhịn nhục đối với tội nhân, không muốn một người nào bị chết mất, song muốn mọi người đều ăn năn trước khi quá muộn.
Vậy khi Kinh Thánh nói rằng "Đức Chúa Trời sáng tạo ra trời, đất, biển và muôn vật trong vòng sáu ngày và Ngài nghỉ ngày thứ bảy", chúng ta hãy tin rằng mỗi một ngày trong công cuộc sáng tạo đều là ngày 24 tiếng đồng hồ vậy. Điều đó có thể xảy ra vì quyền năng vô biên, trí tuệ vô lượng, lòng yêu thương vô bờ bến của Đấng Sáng Tạo. Bây giờ khoa học chưa thể hiểu nổi Ngài làm cách nào, nhưng chắc chắn có ngày trong tương lai khoa học sẽ chứng minh những điều kỳ diệu được ghi chép trong Kinh thánh.
Xem tiếp kỳ sau: Kinh Thánh và điện toán
Xem lại các bài trước: xin vô trang mạng: http://ykien.net/nngoclan00.html
Hoặc muốn đọc trọn cuốn sách tiến Hóa hay Tạo Hóa, xin tới http://www.geocities.com/timhieuchanly
Địa chỉ liên lạc: timhieuchanly@yahoo.com
http://www.ykien.net
|